Chuyên đề cuối khóa
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Bên cạnh đó khi yêu cầu trong báo cáo kiểm toán phải đề xuất kiến nghị thì cũng không khác với thông lệ chung, vì thông thờng khi doanh nghiệp có yêu cầu, thì ngoài báo cáo kiểm toán các Báo cáo tài chính, kiểm toán viên sẽ phát hành th góp ý về quản lý, và th này thờng có nội dung là trao đổi về các yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, nhờ đó đơn vị sẽ nhận thức rõ hơn và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của mình. Ba là, Về đối tợng kiểm toán độc lập thì trong Quy chế và Thông t số 22 đều nêu rõ là kiểm toán độc lập chỉ thực hiện khi có yêu cầu cuả các đơn vị. Thế nhng, ngoài trờng hợp trên, Thông t số 22 lại quy định thêm về các trờng hợp bắt buộc kiểm toán, đó là: khi có yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan thuế hoặc cơ quan tài chính nhà nớc; các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công việc kiểm toán đợc thực hiện hàng năm và các báo cáo quyết toán năm gửi cho các cơ quan quản lý nhà nớc phải kèm theo báo cáo kiểm toán của các tổ chức kiểm toán độc lập. Thế nhng - cũng tơng tự nh trong Thông t 22 - Bộ tài chính đã ban hành Thông t 73 TC/TCDN ngày 12/11/1996 v/v hớng dẫn lập, công bố công khai báo cáo tài chính và kiểm tra báo cáo tài chính hàng năm của DN Nhà nớc, trong đó lại mở rộng phạm vi kiểm toán bắt buộc nh sau: "Báo cáo tài chính của DN phải đợc kiểm toán và có xác nhận đã kiểm toán của kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập. Giám đốc DN có nhiệm vụ lập báo cáo tài chính chính xác, kịp thời và đầy đủ theo đúng quy định của Nhà nớc. Báo cáo tài chính phải đợc lập trên cơ sở những tài liệu có đầy đủ các chứng cứ hợp pháp theo quy định của chế độ kiểm toán hiện hành. Báo cáo tài chính đợc coi là hợp pháp, hợp lệ khi có đủ chữ ký của ngời lập, ngời kiểm toán, kế toán trởng, giám đốc và đóng dấu DN. Nếu báo cáo tài chính không đúng sự thật, không đủ các chứng cứ hợp pháp hoặc không kịp thời thì ngời lập và những ngời ký báo cáo tài chính phải chịu trách nhiệm trớc pháp luật" Từ sự đối chiếu trên, chúng tôi cho rằng một mặt thì việc mở rộng phạm vi kiểm toán bắt buộc trong các Thông t không đợc phép quy định trái với tinh thần của Nghị định; mặt khác lại không khả thi. Chúng tôi xin phân tích cụ thể và trình bày ý kiến về bản chất của các loại kiểm toán và trách nhiệm pháp lý của các kiểm toán viên trên các phơng diện sau: 1. Trớc hết nếu xem xét ở góc độ kiểm toán độc lập, thì hiện nay ở nớc ta chỉ có khoảng chừng 150 ngời đã có chứng chỉ kiểm toán viên độc lập do Bộ tài chính cấp và đăng ký hành nghề tại các tổ chức kiểm toán độc lập Việt Nam, nh vậy chúng ta cha đủ nhân lực để đáp ứng nhu cầu kiểm toán báo cáo tài chính tại các loại hình DN trên. Còn nếu đi thuê các công ty kiểm toán quốc tế thì các DN Việt 11 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Nam khó thể gánh chịu nổi chi phí, vì nếu chỉ tính riêng phí kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm thì mỗi DN phải trả ít nhất vài trăm triệu đồng. Bên cạnh đó, nếu giả sử rằng phí kiểm toán chỉ là khoảng vài chục triệu đồng cho một cuộc kiểm toán viên Việt Nam, thì ta cũng dễ dàng nhận thấy là phí kiểm toán của toàn xã hội sẽ rất cao. Chính vì thế mà cần phải xem xét lại về việc mở rộng phạm vi kiểm toán bắt buộc là co hợp lý, và có thật sự cần thiết hay không? Sở dĩ vấn đề đợc nêu lên vì theo thông lệ thì các DN thờng sẽ chỉ mời kiểm toán độc lập báo cáo tài chính khi họ có nhu cầu, chẳng hạn nh khi họ bán cổ phần cho công chúng, khi họ xin vay tiền v..v..Hay có thể nói cách khác thì sự ra đời của kiểm toán độc lập và kết quả kiểm toán báo cáo tài chính chủ yếu để phục vụ cho các đệ tam nhân nh các ngân hàng, các nhà đầu t v..v... Chính vì thế, chúng tôi đã đề nghị trong điều kiện của Việt Nam chúng ta nên giới hạn về phạm vi kiểm toán theo luật định (1). Một khía cạnh quan trọng khác cũng cần đợc xem xét đó là trách nhiệm pháp lý của các nhà quản lý DN, và trách nhiệm pháp lý của các kiểm toán viên độc lập và tổ chức kiểm toán độc lập. Nh đã nêu trên thì thông t 73 quy định: báo cáo tài chính chỉ đợc coi là hợp pháp, hợp lệ khi có ngời kiểm toán và nếu báo cáo tài chính không đúng sự thật, không đủ các chứng cứ hợp pháp hoặc không kịp thời thì chính kiểm toán viên cũng phải chịu trách nhiệm trớc pháp luật. Chúng tôi nghĩ rằng cần phải xem xét lại về cách đặt vấn đề này, vì về trách nhiệm các nhà quản lý DN thì đã đợc xác định trong một số văn bản sau: Theo nghị định 59/CP thì Giám đốc DN và Hội đồng quản trị DN (nếu có) phải chịu trách nhiệm về tính chính xác trung thực của các báo cáo tài chính và báo cáo thống kê (điều 36 Quy chế), và Tổng giám đốc, giám đốc DN Nhà nớc chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo tài chính, số liệu quyết toán và các thông tin tài chính khác (điều 39 Quy chế). Điều 37 Luật Dn Nhà nớc cũng chỉ rõ"....Tổng giám đốc hoặc giám đốc là đại diện pháp nhân của DN và họ chịu trách nhiệm trớc Hội đồng quản trị, ngời ra quyết định bổ nhiệm và pháp luật về điều hành hoạt động của DN. Tổng giám đốc hoặc giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong DN...." Ngoài ra, theo Luật công ty thì giám đốc (tổng giám đốc) của các công ty cũng có thẩm quyền nh trên. Trên tinh thần đó, ta có thể hiểu rằng chính các nhà quản lý cao cấp của DN phải chịu trách nhiệm về các thông tin trên, và quan niệm này hoàn toàn đúng đắn và phù hơp với thông lệ quốc tế. Từ đó chúng ta không thể quy định nh trong Thông t 73 là ngời kiểm toán phải chịu trách nhiệm nh các nhà quản lý DN. Tuy có thể có sự khác biệt về luật pháp ở các quốc gia, nhng thông thờng ở nhiều nớc thì các nhà quản lý DN phải chịu trách nhiệm về việc lập, trình bày và 12 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 công bố các báo cáo tài chính theo đúng các chuẩn mực kế toán hiện hành, và dĩ nhiên họ phải hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng luật pháp. Riêng ở các DN Nhà nớc thì do Nhà nớc còn là chủ sở hữu của đơn vị, nên các nhà quản lý còn phải chịu trách nhiệm trớc Nhà nớc về phơng diện hành chính. Nh vậy ở Việt Nam, theo quy định hiện hành thì các nhà quản lý DN Nhà nớc phải chịu trách nhiệm nh trên bao gồm Hội đồng quản trị (nếu có), Giám đốc và kế toán trởng. Riêng ở các loại DN khác nh các DN hoạt động theo luật đầu t nớc ngoài, theo Luật công ty và các DN t nhân, thì chúng ta cũng cần quy định rõvề trách nhiệm của kế toán trởng. Sở dĩ vấn đề cần nêu lên vì trong thực tiễn thì các cơ quan có thẩm quyền cũng mặc nhiên xem nh họ đóng vai trò tơng tự nh kế toán trởng tại các đơn vị Nhà nớc. Trong khi đó trên thực tiễn ngay tại các đơn vị Nhà nớc thì việc thực thi vai trò kiểm soát viên của kế toán trởng đã khó thì tại các đơn vị ngoài quốc doanh sẽ khó hơn bội phần vì họ chỉ là ngời làm công ăn lơng, họ càng không thể trái lệnh của các nhà quản lý (2). Còn đối với các ngời lập báo cáo tại mọi đơn vị, chúng tôi nghĩ rằng cũng cần giới hạn trách nhiệm vì họ chỉ là ngời thừa hành nên họ không thể làm trái lệnh của các nhà quản lý. Còn về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên độc lập và tổ chức kiểm toán độc lập, ta nhận thấy rằng theo thông lệ thì một mặt khi hành nghề, họ phải tuân thủ luật pháp, các chuẩn mực kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp, mặt khác thì họ chỉ chịu trách nhiệm về báo cáo kiểm toán của mình, và mức độ trách nhiệm đợc xác định tuỳ theo từng đối tợng sử dụng. Các kiểm toán viên độc lập và tổ chức kiểm toán độc lập thờng chịu trách nhiệm cụ thể nh sau: a. Đối với khách hàng - tức ngời thuê kiểm toán, thờng kiểm toán viên chỉ chịu trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng kiểm toán, ví dụ nh khi phát hành báo cáo kiểm toán trễ hạn; hay khi họ không bảo mật các thông tin của khách hàng; hoặc khi họ nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính, chẳng hạn khi báo cáo tài chính của đơn vị đã trình bày trung thực và hợp lý, nhng họ đã nhận xét ngợc lại. Khi có tranh chấp giữa hai bên thì thẩm quyền phán quyết thờng đợc giao cho toà án. Trong cả hai trờng hợp này nếu kiểm toán viên gây thiệt hại vật chất cho khách hàng thì nếu do sơ suất kiểm toán viên sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự, còn nếu do gian lận thì họ phải chịu cả trách nhiệm hình sự. b. Đối với các đệ tam nhân (cổ đông, ngân hàng, nhà đầu t... ): kiểm toán viên chỉ chịu trách nhiệm khi họ nhận xét không xác đáng về báo cáo tìa chính, ví dụ nh khi báo cáo tài chính trình bày không trung thực và không hợp lý về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN, nhng kiểm toán viên lại nhận xét là trung thực và hợp lý, và vì thế gây ra thiệt hại vật chất cho các đệ tam nhân, chẳng 13 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 hạn nh khi ngân hàng tin cậy, cho vay tiền và bị thiệt hại. Lúc này thì cũng tơng tự nh trên, nếu vì sơ suất họ sẽ chịu trách nhiệm dân sự, còn nếu do gian lận thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự. ở đây cũng còn một khía cạnh khác đó là mức độ trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập trong việc phát hiện các sai phạm. Theo thông lệ quốc tế, khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính thì họ không có trách nhiệm phát hiện tất cả các sai phạm cuả các nhà quản lý và mọi nhân viên doanh nghiệp. Chính vì vậy mà ngay cả khi kiểm toán viên nhận xét là các báo cáo tài chính đợc trình bày trung thực và hợp lý, thì các gời sử dụng cần phải hiểu là lúc đó kiểm toán viên chỉ bảo đảm là báo cáo tài chính đáng tin cậy và không có những sai sót trọng yếu - tức những sai phạm làm ảnh hởng đến sự đánh giá và ra quyết định của ngời sử dụng báo cáo tài chính. Nói cách khác không bao giờ kiểm toán viên độc lập dám đảm bảo là báo cáo tài chính là tuyệt đối chính xác. Tóm lại, đối với các báo cáo tài chính, chúng tôi nghĩ rằng Nhà nớc cần phân định rõ trách nhiệm của các bên, và theo chúng tôi thì do là ngời có quyền điều hành cao nhất nên các nhà quản lý phải chịu trách nhiệm về việc ngăn ngừa và phát hiện mọi sai phạm, đây cũng là trách nhiệm của hệ thống kiểm soát nội bộ và các kiểm toán viên nội bộ tại đơn vị. Còn các kiểm toán viên độc lập thì họ chỉ chịu trách nhiệm về báo cáo kiểm toán. 2. Nếu xem xét trên phơng diện kiểm toán nội bộ, thì do các kiểm toán viên nội bộ là nhân viên của DN, lĩnh lơng của DN, chịu sự quản lý của các nhà quản lý nên họ không thể có sự độc lập nh các kiểm toán viên độc lập. Chính từ sự thiếu độc lập này nên nếu giao cho kiểm toán viên nội bộ và kiểm toán báo cáo tài chính và ký xác nhận thì liệu Nhà nớc hay các đệ tam nhân có tin cậy hay không? ở đây câu trả lời rõ ràng sẽ không ai có thể tin cậy - ngoại trừ các nhà quản lý DN. Vì lẽ đó, nên thông thờng thì các kết quả kiểm toán nội bộ chủ yếu là để phục vụ cho nhu cầu quản trị DN, và kiểm toán viên nội bộ chỉ thực hiện kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Còn về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán nội bộ, xuất phát từ nhận thức trên theo chúng tôi thì cũng rất hạn chế, và chủ yếu họ chịu trách nhiệm trớc các nhà quản lý DN; vì thế không thể yêu cầu họ ký và chịu trách nhiệm về báo cáo tài chính h các nhà quản lý. Đặc biệt là ở các DN nhà nớc, nếu bắt buộc nh trên thì phải chăng kiểm toán viên nội bộ sẽ trở thành kiểm soát viên Nhà nớc thứ hai tại DN- bên cạnh kiểm soát viên thứ nhất là kế toán trởng, lúc này tình hình sẽ trở nên phức tạp trên nhiều phơng diện, chẳng hạn họ sẽ kiểm soát lẫn nhau nh thế nào? Việc hình thành và phát triển loại hình kiểm toán nội bộ là hết sức cần thiết, thế nhng cần sớm có những định hớng rõ ràng và thể chế hoá về kiểm toán nội bộ 14 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 và các loại kiểm toán khác. Do đó, vấn đề cấp bách hiện nay là Nhà nớc hay Hội kế toán Việt Nam phải sớm ban hành các chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán, điều lệ đạo đức nghề nghiệp, tiêu chuẩn kiểm toán viên Nhà nớc v..v..Trong các văn bản cũng cần thống nhất về tên gọi, vì hiện tại đã có sự định danh khác nhau, chẳng hạn tại DN Nhà nớc thì gọi là kiểm toán viên nội bộ; tại DN Nhà nớc có Hội đồng quản trị thì có Ban kiểm soát; tại các công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn thì lại là kiểm soát viên... , phải chăng ta có thể gọi thống nhất là kiểm toán nội bộ và kiểm toán viên nội bộ. 3. Ngoài ra để tránh những hiểu lầm nghiêm trọng, chằng hạn hiện nay vẫn còn nhiều ngời quan niệm rằng khi khi mời kiểm toán báo cáo tài chính kiểm toán viên sẽ phải có trách nhiệm phát hiện mọi gian lận và sai sót... ; nên chúng t a cần sớm có những định nghĩa rõ ràng và thống nhất về các thuật ngữ sử dụng trong kiểm toán. Ví dụ nh: * Cần định nghĩa rõ ràng về tính đúng đắn, hợp lý, hợp pháp, hợp lệ, trung thực, chính xác, đầy đủ độc lập, khách quan, công bằng bí mật số liệu.... * Cần định nghĩa rõ hơn về các vấn đề đã nêu ra trong Quy chế, Ví dụ nh: - Thế nào là có quan ehệ kinh tế với khách hàng? Chẳng hạn khi kiểm toán viên X có phần hùn ở công ty A, Công ty A có phần hùn ở công ty B và khi công ty B mời kiểm toán thì kiểm toán viên X có đợc nhận lời mời hay không? - Thế nào là gây thiệt hại vật chất cho khách hàng và phải bồi thờng? ở đây thì khách hàng là ai? Đó là đơn vị thuê kiểm toán viên, hay nhà quản lý doanh nghiệp, các cổ đông trong tơng lai, hay các đệ tam nhân? Hoặc nếu bồi thờng thì ai bồi thờng? Công ty kiểm toán, hay kiểm toán viên? Và thời hiệu chịu trách nhiệm là bao nhiêu? Là 1 năm hay 2 năm, hay 10 năm? v..v.. Đây là một vấn đề rất quan trọng và cấp bách, rất cần sớm có các qui định rõ ràng, vì nếu không thì khi phát sinh những tranh chấp thì ngay cả toà án cũng rất khó phán quyết. 4. Một vấn đề khác trong qui định hiện hành thì vẫn còn lẫn lộn giữa trách nhiệm và quyền hạn gia kiểm toán viên và Công ty kiểm toán. Ví dụ nh: Ta qui định là khi gây thiệt hại cho khách hàng thì phải bồi thờng. thế nhng ai là ngời bồi thờng: kiểm toán viên hay Công ty kiểm toán? Chúng ta cần sớm nghiên cứu và xác định rõ ràng, và theo chúng tôi thì trong hầu hết các nội dùng từ điều 12 (dịch vụ kiểm toán) cho đến điều 16 của Qui chế (quyền hạn của kiểm toán viên) đó là qui định đối với Công ty kiểm toán, chứ không phải đối với kiểm toán viên. 5. Về giá trị của các báo cáo kiểm toán do kiểm toán viên độc lập phát hành. Đây là một vấn đề cũng cần đề cập đến vì chúng tôi nhận thấy có thể chúng ta đã cha có sự thống nhất về giá trị của báo cáo kt viên độc lập phát hành. Đây là một 15 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 vấn đề cũng cần đề cập đến vì chúng tôi nhận thấy có thể chúng ta đã cha có sự thống nhất về giá trị của báo cáo kiểm toán các báo cáo tài chính. Theo thông lệ chung thì báo cáo này chủ yếu là để cung cấp thông tin giúp cho ngời sử dụng đánh giá về mức độ trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính đợc kiểm toán, và ngời sử dụng chủ yếu là các cổ đông, các ngân hàng, các nhà đầu t v..v..để họ ra các quyết định trong kinh doanh. Nói cách khác, chúng ta đã mở rộng và đòi hỏi quá cao đối với giá trị của báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính do kiểm toán viên độc lập phát hành, khi mà chúng ta quan niệm nh trong điều 1 của Quy chế là: " Sau khi có xác nhận của kiếm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị kế toán là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở đơn vị, các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính nhà nớc xét duyệt quyết toán hàng năm của các đơn vị kế toán cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản nộp khác của đơn vị đối với ngân sách nhà nớc... " 6. Ngoài ra, điều 21 của Quy chế lại quy định: các cơ quan quản lý nhà nớc khi sử dụng các số liệu kế toán và báo cáo quyết toán đã đợc kiểm toán, nếu thấy có nghi vấn thì kiểm tra lại và trong phạm vi trách nhiệm quyền hạn của mình đa ra các quyết định quản lý. Đơn vị kế toán phải chấp hành quyết định của cơ quan quản lý nhà nớc, đồng thời yêu cầu tổ chức kiểm toán xem xét lại kết quả kiểm toán, nếu có bất đồng và tranh chấp thì kiến nghị lên cơ quan tài chính địa phơng hoặc Bộ tài chính xem xét, xử lý. Và cũng theo Quy chế thì: "Bộ tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nớc đối với hoạt động kiểm toán..ý kiến Bộ trởng Bộ tài chính về các bất đồng và tranh chấp về kết quả kiểm toán là ý kiến cuối cùng". ở đây khi Quy chế giao thẩm quyền tài phán trong lãnh vực kiểm toán độc lập cho Bộ tài chính là cha hợp lý, mà ta cần tách biệt thẩm quyền giữa các cơ quan hành chính và t pháp, và tốt nhất là nên giao trách nhiệm này cho toà án các cấp. Nhờ đó các tranh chấp sẽ đợc giải quyết công bằng và đúng luật pháp hơn, và đảm bảo một vấn đề rất cần thiết là giúp cho các công ty CPA và kiểm toán viên giữ đợc tính độc lập của mình, vì tính độc lập là một vấn đề quan trọng trong hoạt động của loại hình này. 7. Hiện nay chúng ta quy định tổ chức kiểm toán có thể là doanh nghiệp nhà nớc và ngời đứng đầu phải là kiểm toán viên, nhng đồng thời ta cũng quy định là kiểm toán viên độc lập không thể là công chức nhà nớc. Theo chúng tôi thì nên sửa đổi quy định trên, cụ thể là tổ chức kiểm toán không nên là doanh nghiệp nhà nớc, và cần sớm tách các công ty kiểm toán VN ra 16

0 Comments:
Post a Comment
Subscribe to Post Comments [Atom]
<< Home