Friday, June 10, 2016

70396

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 xét đoán nghề nghiệp của KTV. Khi KTV cho rằng rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR) bằng 0 có nghĩa là KTV tin tưởng BCTC của khách hàng không tồn tại bất cứ sai phạm trọng yếu nào. Đây là trường hợp lý tưởng cho mọi cuộc kiểm toán nhưng không bao giờ xảy ra. Lĩnh vực kiểm toán là một lĩnh vực tương đối hơn tuyệt đối, vì vậy KTV chỉ có thể kết luận BCTC đã được trình bày, trung thực hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu chứ không thể khẳng định chắc chắn trung thực, hợp lý xét trên mọi khía cạnh. Ngược lại, khi rủi ro kiểm toán ở mức 1 hay 100%, KTV cho rằng BCTC của khách hàng đã bị làm sai lệch nghiêm trọng trên nhiều khía cạnh trọng yếu. Vì vậy, biên độ giao động của rủi ro kiểm toán mong muốn biến đổi từ 0 đến 1 hay từ 0% đến 100%. Việc đưa ra mức rủi ro kiểm toán mong muốn mang tính chủ quan của KTV. Tuy nhiên, mức rủi ro kiểm toán mong muốn mà KTV đưa ra phải đủ thấp để những người quan tâm có thể sử dụng BCTC đã kiểm toán của khách hàng làm cơ sở ra quyết định, hạn chế các loại rủi ro trong kinh doanh. Quá trình nghiên cứu về các loại rủi ro đã chỉ ra mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa chúng. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán ở chỗ: chúng tồn tại độc lập, khách quan với các thông tin tài chính, không phụ thuộc vào ý muốn và ý chí của KTV, KTV cũng không thể tác động để làm thay đổi hai loại rủi ro này. Mối quan hệ qua lại giữa các loại rủi ro trong kiểm toán tài chính đã được ghi rõ trong Mục 16, Nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số 25: “ Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác với rủi ro phát hiện ở chỗ các rủi ro này tồn tại độc lập với các thông tin tài chính. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh và môi trường quản lý của doanh nghiệp cũng như trong bản chất của số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ cho dù việc kiểm toán có tiến hành hay không. Thậm chí các rủi ro này không được KTV kiểm tra đến. KTV có thể đánh giá các rủi ro này và thiết kế các phương pháp kiểm toán cơ bản để hạn chế rủi ro phát hiện đến mức có thể chấp nhận được. Bằng cách đó mà giảm rủi ro kiểm toán đến mức có thể chấp nhận được”. Cách xác định quan hệ này được xây dựng theo mô hình rủi ro kiểm toán thứ nhất (mô hình 1), tức là rủi ro kiểm 11 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 toán bị điều chỉnh bởi rủi ro phát hiện, chưa thể hiện được tính chất phụ thuộc của rủi ro phát hiện vào rủi ro kiểm toán mong muốn và rủi ro tiềm tàng cũng như rủi ro kiểm soát. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát thường biến đổi cùng chiều với nhau và do vậy thường được đánh giá chung khi đánh giá rủi ro kiểm toán. Nếu doanh nghiệp hoạt động tronh lĩnh vực kinh doanh mang tính mạo hiểm cao, rủi ro tiềm tàng lớn, mặc dù HTKSNB của doanh nghiệp hoạt động hữu hiệu nhưng rủi ro kiểm soát phải luôn được đánh giá ở mức trung bình hoặc trên mức trung bình vì những hạn chế cố hữu của HTKSNB và vì rủi ro kiểm soát luôn luôn tồn tại. Ngược lại với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV có thể tác động vào rủi ro kiểm toán và rủi ro phát hiện. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, KTV sẽ dự kiến mức rủi ro kiểm toán mong muốn trên cơ sở đảm bảo tính đáng tin cậy của BCTC sau khi kiểm toán và chi phí kiểm toán. Rủi ro phát hiện được tính toán theo mô hình (2) sau khi đã xác định được rủi ro kiểm toán mong muốn và đánh giá được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Vì vậy, KTV không những nhận thức được mà còn có thể tác động vào rủi ro phát hiện. Với một mức rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định trước, từ mô hình (2) có thể rút ra kết luận: rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, do vậy, rủi ro phát hiện cũng tỷ lệ nghịch với số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập. Nếu như rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá cao thì rủi ro phát hiện được tính toán sẽ thấp, khi đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập nhiều, phạm vi kiểm toán mở rộng và khối lượng công việc kiểm toán tăng. Ngược lại khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp thì rủi ro phát hiện cao, khi đó KTV chỉ cần thu thập số lượng bằng chứng kiểm toán nhỏ hơn cũng đủ cơ sở đưa ra kết luận kiểm toán. Bảng 1.1. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro với số lượng bằng chứng kiểm toán AR IR CR DR 12 Số lượng bằng chứng cần thu thập Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Cao Thấp Thấp Trung bình Cao Thấp Thấp Cao Trung bình Thấp Thấp Thấp Cao Trung bình Trung bình Cao Trung bình Thấp Trung bình Trung bình Thấp Trung bình Cao Trung bình Trung bình 2. Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về “ Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” thì: Khi xác định phương pháp tiếp cận kiểm toán, KTV phải quan tâm đến những đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát để xác định mức độ rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được cho cơ sở dẫn liệu của BCTC và xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục cơ bản cho cơ sở dẫn liệu đó”. Như vậy, mục đích của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là để xác định mức rủi ro phát hiện làm cơ sở cho lập kế hoạch các thử nghiệm kiểm toán sẽ áp dụng. Từ mô hình rủi ro kiểm toán, ta thấy rủi ro phát hiện được xác định trên cơ sở những đánh giá về rủi ro kiểm toán mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. 2.1. Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn Rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, nó được xác định một cách chủ quan và phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: Một là, mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin vào BCTC Trong cơ chế thị trường, có rất nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán mà trực tiếp là BCTC. Những người quan tâm này có thể là: các cơ quan Nhà nước ( cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế) ; các nhà đầu tư ( cần có thông tin trung thực để có hướng đầu tư đúng đắn, điều hành sử dụng vốn đầu tư và ăn chia phân phối kết quả đầu tư); các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác ( cần thông tin trung thực để có quyết định kinh doanh đúng đắn); người lao động, khách hàng, nhà cung cấp... 13 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Khi nhiều người sử dụng bên ngoài đặt niềm tin vào các BCTC thì những sai lệch trọng yếu trên BCTC dễ gây tác hại trên phạm vi rộng. Do vậy, trong trường hợp này KTV cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó tăng số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ chính xác trong các kết luận đưa ra của mình. Một số yếu tố chỉ ra mức độ mà theo đó các BCTC được người sử dụng bên ngoài tin tưởng là: Thứ nhất, quy mô của đơn vị được kiểm toán: quy mô của đơn vị có thể được đo bằng tổng tài sản, tổng doanh thu, hoặc tổng thu nhập. Quy mô càng lớn thì BCTC càng được sử dụng rộng rãi và rủi ro kiểm toán mong muốn cần đánh giá ở mức thấp hơn Thứ hai, quyền sở hữu: Nếu quyền sở hữu doanh nghiệp thuộc về nhiều bên tham gia hơn thì sẽ có nhiều người quan tâm đến BCTC hơn và rủi ro kiểm toán mong muốn cũng cần được đánh giá ở mức thấp hơn và ngược lại Thứ ba, bản chất và quy mô của công nợ. Các khoản công nợ là những khoản chắc chắn có liên quan tới một bên thứ ba cho vay, cho nợ. Các chủ nợ hiện tại và tiềm năng thường quan tâm đến tình hình tài chính của công ty đặc biệt là khả năng thanh toán để xem xét có tiếp tục duy trì và cho doanh nghiệp vay tiếp hay không. Vì thế, khi BCTC bao gồm một số lượng lớn các khoản công nợ hoặc các khoản công nợ có quy mô lớn thì chúng có khả năng được sử dụng rộng rãi hơn. Hai là, khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán công bố Nếu khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được công bố thì khả năng KTV sẽ liên quan tới các vụ kiện của các bên do sử dụng BCTC được kiểm toán là rất lớn. Chính vì thế, trong trường hợp này, KTV phải thiết lập ngay từ đầu một mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn để đề phòng các trường hợp bị các bên có liên quan kiện. Trường hợp này 14 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 sẽ dẫn đến chi phí kiểm toán cao hơn nhưng KTV vẫn phải xác định rủi ro kiểm toán ở mức thấp hợp lý. Việc dự đoán khả năng thất bạim khó khăn của đơn vị được kiểm toán trong tương lai là một vấn đề rất phức tạp. Tuy nhiên, KTV có thể dựa vào một số yếu tố sau để dự đoán sự kiện này: Thứ nhất, khả năng hoán chuyển thành tiền mặt. Nếu một doanh nghiệp thường xuyên thiếu tiền và vốn lưu động thi có thể doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán. KTV cần phải đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng để dự đoán khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn trong tương lai và nếu trầm trọng hơn, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn thì dễ dẫn đến nguy cơ phá sản. Thứ hai, các khoản lãi ( lỗ) trong các năm trước. Khi một doanh nghiệp giảm nhanh các khoản lãi hoặc tăng nhanh các khoản lỗ trong một số năm liên tục thì đây là dấu hiệu về việc kinh doanh đang có chiều hướng xấu. KTV cần đánh giá khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính khi thấy có các dấu hiệu này xuất hiện. Thứ ba, các biện pháp nhằm gia tăng quá trình tài trợ. Nếu doanh nghiệp càng phụ thuộc vào các khoản tài trợ, đặc biệt đang tìm mọi biện pháp để gia tăng khoản tài trợ này thì chứng tỏ doanh nghiệp không tự chủ được về mặt tài chính, do đó khả năng gặp khó khăn về mặt tài chính sẽ cao. Thứ tư, bản chất hoạt động của công ty khách hàng. Trong một số lĩnh vực hoạt động kinh doanh, khả năng gặp rủi ro dẫn đến phá sản rất cao, chẳng hạn ngành kinh doanh môi giới chứng khoán...Khi kiểm toán những ngành kinh doanh như vậy, KTV nên đề phòng khả năng khách hàng sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, rủi ro trong kinh doanh để xác định mức rủi ro kiểm toán cho hợp lý. Việc thu thập thông tin và tìm hiểu về khách hàng, đặc biệt là hai yếu tố nêu trên sẽ giúp KTV xác định được mức rủi ro kiểm toán mong muốn cho toàn bộ BCTC được kiểm toán. Tuy nhiên ,các thủ tục kiểm toán lại được thiết kế riêng cho từng khoản 15 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 mục, việc thiết kế các thủ tục này như thế nào lại phụ thuộc một phần rất lớn vào rủi ro kiểm toán được xác định cho từng khoản mục đó. Chính vì thế, sau khi thiết lập mức rủi ro kiểm toán chung cho toàn bộ BCTC, KTV cần dựa vào đó để đưa ra mức rủi ro kiểm toán cho từng khoản mục. Chẳng hạn, KTV đánh giá mức rủi ro kiểm toán mong muốn cho toàn bộ BCTC ở mức trung bình thì KTV có thể xác định mức rui ro kiểm toán của từng khoản mục cũng ở mức trung bình. Tuy nhiên, với một số khoản mục đặc biệt, KTV có thể điều chỉnh mức rủi ro này cho phù hợp hơn bởi lẽ mỗi khoản mục sẽ được phân bổ một mức trọng yếu khác nhau nên khả năng tồn tại các sai phạm được coi là trọng yếu và không được phát hiện ở từng khoản mục khác nhau sẽ khác nhau. Đối với những khoản mục có mức trọng yếu được phân bổ cao hơn thì KTV có thể xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn và ngược lại. Hoặc, có những khoản mục mà nó có tầm quan trọng đối với người sử dụng kết quả kiểm toán hơn thì mức rủi ro cũng cần được xác định thấp hơn. Chẳng hạn, để vay được vốn ngân hàng, doanh nghiệp cần phải có BCTC được kiểm toán. Khi đó kiểm toán các khoản mục liên quan tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp thi KTV cần thiết lập một mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn các khoản mục khác. Sau khi thiết lập được mức rủi ro kiểm toán mong muốn, KTV sẽ đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát 2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng(IR) Việc phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng có ý nghĩa rất quan trọng khi lập kế hoạch kiểm toán. Mức độ rủi ro tiềm tàng là cơ sở để lựa chọn các thủ pháp kiểm toán, xác định khối lượng công việc, thời gian, nhân sự và chi phí cần thiết cho một cuộc kiểm toán. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về “ Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”: “ Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ BCTC của đơn vị được kiểm toán. Khi lập chương trình kiểm toán, KTV phải xác định cụ thể mức độ rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn liệu. Trường hợp không thể xác định cụ thể được thì KTV phải giả định rằng rủi ro 16

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home