Tuesday, May 10, 2016

70510

Có thể thấy rằng hiện nay hệ thống KTNB ở Việt Nam vẫn cha thực sự phát triển mà vẫn ở giai đoạn hình thành và hoàn thiện. Lực lợng kiểm toán viên còn quá ít, hệ thống chính sách, qui chế về KTNB cha đợc xây dựng đồng bộ, cha đáp ứng đợc nhu cầu kiểm toán của DN, hiệu quả hoạt động cha cao. Mặc dù vậy, hiện nay Nhà nớc ta đang khuyến khích các DNNN hình thành bộ phận KTNB trong DN. Theo điều 36, chong 5- nghị định số 59/NĐ-CP ngày 3/10/1996 qui định : DN tự tổ chức KTNB báo caó tài chính của mình hoặc thuê kiểm toán độc lập nếu thấy cần thiết chính là nhằm tạo cho DNNN cơ hội lựa chọn việc có nên tổ chức bộ phận KTNB trong DN hay không. Mặt khác giữa thực trạng phát triển KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay và nhu cầu đòi hỏi của nhà nớc về khía cạnh pháp lý còn có một số mâu thuẫn. Theo điểm 3, mục I- thông t 73 TC/TCDN ngày 12/11/1996 của Bộ tài chính: Báo cáo tài chính đợc lập đợc coi là hợp pháp, hợp lệ khi có đủ chữ kí của ngời lập, ngời kiểm toán, kế toán trởng, giám đóc và đóng dấu DN, trong điều kiện hiện nay khi lực lợng cán bộ kiểm toán và hệ thống KTNB cha thực sự hoàn thiện và phát triển, cha đáp ứng đợc nhu cầu kiểm toán của tất cả các DNNN thì việc qui định nh vậy là cha thoả đáng. Nh vậy xét về thực trạng phát triển KTNB trong các DNNN ở Việt Nam thì chúng ta thấy rõ rằng KTNB vẫn đang ở trong giai đoạn hình thành và phát triển, việc thí điểm mới chỉ dừng lại ở các TCT, các DN có qui mô lớn .Việc hình thành mô hình KTNB nói chung còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Tuy nhiên, việc phát triển hệ thống KTNB trong các DNNN ở nớc ta trong điều kiện nền kinh tế thị trờng là một đòi hỏi cần thiết và tất yếu vì sự tồn tại và hng thịnh của chính các DNNN trong cơ chế thị trờng canh tranh khốc liệt. 3. Một số thiếu sót thờng gặp trong công tác kiểm toán tại các DNNN: Hàng năm bộ phận kiểm toán phảI tiến hành kiểm tra báo cáo tài chính tai các DNNN để xác định đúng đắn kết quả hoạt động kinh doanh, xác định nghiã vụ cuả DN đối với nhà nớc.Qua thực trạng của công tác kiểm toán nói chung, công tác kiểm toán nội bộ nói riêng tại các DNNN, ta thấy nổi lên một số vấn đề sau: Về hạch toán tài sản cố định (TSCĐ): Khái niệm về nâng cấp TSCĐ và sửa chữa TSCĐ không đợc nắm vững tại một số DN nên việc hạch toán không chuẩn xác. Chi phí nâng cấp TSCĐ là những chi phí nhằm kéo dàI thời gian sử dụng, nâng cao năng suất tính năng, tác dụng của TSCĐ. Theo cơ chế tài chính hiện hành sẽ đợc hạch toán tăng giá trị nguyên 11 giá TSCĐ nhng có DN lại hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh và ghi theo bút toán: Nợ TK 627, 642, 642 Có TK 111, 112 Hạch toán nh vậy làm tăng giá thành giả tạo, làm giảm lợi tức DN.Bút toán trên phải sửa lại ghi tăng giá trị TSCĐ: Nợ TK 211 Có TK 111,112 Về hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ đối với ngành đặc thù nh nông lâm nghiệp nếu chi phí phát sinh không đều giữa các kỳ, các năm mà DN muốn biết trớc chi phí sửa chữa lớn TSCĐ và chi phí sản xuất kinh doanh cần lập kế hoạch tính trớc để trình cơ quan tài chính xem xét. Nhng có một số DN không tuân theo qui địnhtrên nên việc quản lí chi phí sản xuất kinh doanh gặp khó khăn. Hạch toán nguyên vật liêu: Có những DN hạch toán tăng giá đầu vào khi mua nguyên vật liêu dùng biên nhận thay cho hoá đơn do Bộ tàI chính phát hành đã làm khó khăn cho việc kiểm soát chi phí. Việc hạch toán chi phí nguyên vật vào giá thành sản phẩm không tuân theo định mức chhi phí thực tế mà vận dụng cách khoán chi phí không đủ căn cứ tin cậy đã làm giá thành sản phẩm phản ánh không chính xác. Hạch toán một số chi phí vào giá thành không đúng Đó là các chi phí nh quà biếu, ủng hộ đoàn thể, các cá nhân. Một số khoản không đợc hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh nhng DN vãn thực hiện nh: DN sản xuất kinh doanh tha lỗ nhng vẫn trao đủ lơng cấp bậc và các khoản phụ cấp cho các chức danh giám đốc, phó giám đốc, kế toán trởng đôn vị trái với qui định hiện hành của Nhà nớc. Các trờng hợp hạch toán vừa thừa vừa thiếu: Hạch toán không đầy đủ doanh thu (thiếu) một số trờng hợp tiêu thụ nội bộ quà biếu bằng sản phẩm hàng hoá DN không đa vào doanh thu nh: ngành điện sử dụng điện nội bộ, ngành bu điện dùng điện thoại đàm thoại nội bộ. Hạch toán tăng chi phí không hợp lí: Đó là việc chi phí tiền lơng không dựa vào đơn giá sản phẩm, nghiệm thu ớc khối lợng đã đa vào hạch toán, lại có trờng hợp hạch toán những khoản vợt định mức tiêu hao về lao động, vật t để giảm lãi. Chứng từ kế toán cha đảm bảo qui định Một số DN lập chứng từ khong đảm bảo tính hợp lí, hợp lệ, không đủ những yếu tố qui định của Bộ tài chính. Nhiều DN còn dùng hoá đơn cũ để mua 12 bán vật t, việc ghi chép trên hoá đơn không đúng qui định phản ánh mỗi bên hoá đơn một số liệu khác nhau. Chứng từ kế toán không chuẩn mực dẫn đến những sai sót khác làm mấy đi tính trung thực của kế toán. Chấp hành sổ sách kế toán còn những sai phạm Có những DN dùng nhiều hình thức kế toán tại DN (vừa nhật kí chứng từ, vừa chứng từ ghi sổ, vừa nhật kí chung). Việc chấp hành chế độ sổ sách kế toán nh trên làm cho việc ghi chép trùng lặp, mất nhiều thời gian, khó khăn cho việc kiểm tra. Phơng pháp vận dụng hệ thống tài khoản kế toán còn sai sót Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu vào giá thành không đợc một số DN ghi vào TK 621 chi phí nguyên vật liệu mà ghi thẳng vào chi phí: Nợ TK 154 Có TK 152,153 Một số DN đã hạch toán chi phí bán hàng và chi phí quản lí ( TK 641, 642 ) vào giá thành không đúng với qui định hạch toán mới đã ghi: Nợ TK 154 Có TK 641,642 Theo chế độ kế toán mới chi phí gián tiếp hạch toán vào tài khoản 911 xác định kết quả phải ghi nh sau: Nợ TK 911 Có TK 641,642 Về hạch toán công nợ Đã có DN dùng tài khoản công nợ để hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh, tạo nguồn mua sắm TSCĐ và các tảI sản cho DN và đã hạch toán Nợ TK154 Có TK 332 phải trả ngời bán (thực ra là không có) Có TK 136 phải trả khác (thực ra không có) Sau đó DN hạch toán chi phí mua sắm TSCĐ đã ghi: Nợ TK 211 Có TK111,112 Đối với DN hạch toán ghi có tàI khoản công nợ (nhng không có đối tợng trả) phải đợc chuyển thành lãI hoạt động kinh doanh hạch toán vào thu nhập bất thờng đểtừ đó kết chuyển xác định kết quả kinh doanh Nợ TK liên quan Có TK 721 Sau đó 13 Nợ TK 911 Có TK 421 Trên đây là một số sai sót phổ biến do những nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại. Về nguyên nhân chủ quan dễ thấy là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số kế toán trởng không vững nên đã hạch toán sai nộị dung, phơng pháp mà không biết. Nguyên nhân khách quan đem lại là do kế toán truởng đợc Nhà nớc bổ nhiêm nhng đặt tại DN, hởng lơng, sinh hoạt và các quyền lợi khác gắn với DN nên không tránh khỏi tình trạng Ăn cây nào rào cây nấy có khi phải nghe theo ý kiến chỉ đạo của giám đốc nên mất đi chức năng kiểm soát viên tài chính tại DN. Đây là một vấn đề cần đợc xem xét nghiêm túc để có những điều chỉnh hợp lí. II. Những khó khăn chính trong việc hình thành kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. 1. Về mặt pháp lý: Tại Việt Nam, khái niệm KTNB mới chính thức xuất hiện kể từ khi Chính phủ ban hành nghị định số 59/CP (03/10/1996) về Quy chế quản lí tài chính và hạch toán kinh doanh đối với các DNNN.Theo đó các báo cáo tài chính của các DNNN buộc phải đợc kiểm toán bởi kiểm toán viên độc lập hoặc kiểm toán viên nội bộ. Trên cơ sở nghị định 59/ CP này, Bộ tài chính đã ban hành quy định số 832 TC/ QĐ/ CĐKT (28/10/1997) và thông t số 52/1998-TT-BTC (16/4/1998) nhằm đa ra những quy chế về KTNB và tổ chức thực hiện công việc thiết lập bộ máy KTNB trong các DNNN.Với các quy định và thông t này việc tổ chức bộ máy KTNB là một yêu cầu bắt buộc. Xét về khía cạnh pháp lí thì mọi DNNN phải lập bộ phận KTNB và nó có thể thay thế cho kiểm toán độc lập, tuy nhiên KTNB phụ thuộc rất lớn vào ngời lãnh đạo cao nhất trong DN nên tính độc lập của KTNB cha cao và kém hiệu quả. Mặt khác bộ phận KTNB tuy độc lập vơí các bộ phận khác trong DN nhng vẫn là một bộ phận trong DN nên không thể hoàn toàn độc lập với DN. Vì vậy báo cáo KTNB đợc DN rất tin tởng nhng ít có giá trị pháp lí. Chính điều này đã làm cho các DN không tích cực trong việc bộ phận KTNB trong DN mình vì phải bỏ ra chi phí thành lập mà hiệu quả lại cha cao, cha tạo đợc niềm tin cho những ngời sử dụng thông tin về bá cáo tài chính do KTNB thực hiện kiểm toán. Đồng thời trong quá trình thực hiện NĐ 59/CP và QĐ số 832 TC/QĐ/CĐKT (28/10/1997) và thông t số 52/1998/TT-BTC (16/4/1998) đã nảy sinh vớng mắc rằng có những DN với quy mô hoạt động nhỏ, lĩnh vực hoạt đông đặc thù và đội ngũ kế toán viên đủ mạnh mà không nhất thiết phải thiết 14 lập bộ máy KTNB. Đối với các DN có qui mô nhỏ, lãnh đạo DN có thể kiểm tra chặt chẽ mọi hoạt động thì viêc thành lập một bộ phận KTNB này là quá thừa, hoàn toàn không cần thiết và hạn chế khi thành lập là không có cán bộ làm công tác này. Nh đã nói, việc thành lập bộ phận KTNB là nhu cầu tự thân của DN, nhiều trờng hợp lợi ích từ việc thiết lập bộ máy KTNB nhỏ hơn so với chi phí bỏ ra nên sự bắt buộc đối với toàn bộ các DNNN phải có bộ phân KTNB là điều không hợp lí. Chính vì thế, Bộ tài chính tiếp tục ra thông t số 171/1998/TTBTC (22/12/1998) nhằm thay thế thông t số 52/1998/TT-BTC. Theo đó, việc tổ chức bộ máy KTNB là không bắt buộc đối với các DNNN mà phải tuỳ theo qui mô sản xuất kinh doanh ,địa bàn hoạt động, trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán ...mà tổ chức cho phù hợp hoặc không cần tổ chức bộ máy KTNB. Các DNNN đã tổ chức bộ máy KTNB theo qui định tại thông t số 52/1998/ TT-BTC thì tuỳ theo tình hình cụ thể của DN có thể tiếpp tục duy trì và hoạt động hoặc tổ chức lại theo qui định ở thông t này. Nh vậy một hệ thống chính sách cha hoàn thiện, triệt để lại hay thay đổi khiến cho các DNNN lúng túng trong việc thành lập bộ phận KTNB, các DN đang thực hiện theo chính sách này thì lại chuyển đổi theo chính sách khác gây lãng phí tiền của, công sức và thời gian. Đồng thời do tính chất cha ổn định của hệ thống pháp lí làm cho các DNNN chần chừ trong việc thành lập bộ phận KTNB mà vẫn còn đợi tính hoàn thiện của hệ thống này, thấy rõ hơn tính thiệt hơn khi thành lập bộ phận KTNB so với việc thuê kiểm toán nhà nớc hay kiểm toán độc lập. Đây cũng là những lí do làm cho tiến trình thành lập KTNB trong các DNN ở nớc ta còn chậm và cha hiệu quả. Mặt khác, tại điều 6, mục2, quyết định 832 TC/QĐ/CĐkế toán đã nêu rõ: Bộ phận KTNB đợc tổ chức độc lập với các quản lí và điều hành kinh doanh trong DN (cả phòng kế toán- tài chính), chịu sự chỉ đạo và lãnh đạo trực tiếp của (Tổng) giám đốc DN. Đây là một qui định hoàn toàn đúng với nguyên tắc và thông lệ chung về tổ chức bộ máy KTNB. Tuy vậy đến thông t 171/1998/TTBTC ở điểm 3 lại có sự nới lỏng nh sau: tuỳ thuộc vào qui mô sản xuất kinh doanh ,địa bàn hoạt động tập trung hay phân tán, điều kiện cụ thể của trình độ năng lực đội ngũ kế toán, DN có thể chọn lựa hình thức tổ chức bộ máy KTNB cho phù hợp và có hiệu quả thiết thực. Việc tổ chức bộ máy KTNB không bắt buộc đối với các DN. Vậy đối với các DN tổ chức bộ mát KTNB thì tổng giám đốc DN lựa chọn và ra quyết định hình thức tổ chức bộ máy cho phù hợp. Theo sự nới lỏng này, nhiều đơn vị đã sát nhập trở lại bộ phận KTNB vào bộ máy kế toán, từ đó làm mất đi nguyên tắc tối quan trọng của tổ chức bộ máy KTNB là độc lập với các bộ phận còn lại và chỉ phụ thuộc vào ngời lãnh đạo cao nhất 15 của đơn vị. Chính điều này đã làm mất đi tính hiệu quả trong công việc của KTNB do phụ thuộc vaò bộ phận kế toán, tao ra cáI nhìn thiếu tin tởng vào hiệu quả hoạt động của KTNB ở các DN cha thành lập bộ phận KTNB, làm cho các DN này cha thực sự muốn hình thành bộ phận KTNB trong DN mình. Đó là những nguyên nhân chủ yếu của hệ thống chính sách pháp lí ảnh hởng đến sự hình thành bộ phận KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay. 2 Về mặt cán bộ và quy mô của các DNNN ở nớc ta hiện nay: Trớc hết, xét về mặt tiêu chuẩn kiểm toán viên nội bộ (KTVNB): Do KTVNB là ngời kiểm toán các hoạt động của DN cả về tài chính và kiểm toán hoạt động cho nên đòi hỏi về mạt đạo đức, KTVNB phải là ngời thẳng thắn, trung thực, công minh, nhiệt tình với công việc, có tác phong làm việc thận trọng, có uy tín trong DN, đợc lãnh đạo và quần chúng tin tởng. Về trình độ chuyên môn, KTVNB phải là những chuyên gia có trình độ nghề ngiệp vững vàng. Trớc hết, đó là những ngời có trình độ kế toán thành thạo, có thể là những cán bộ đã tốt nghiệp đại học kế toán hoặc đại học ngành kế toán, ngân hàng, tài chính nhng đã làm nghiệp vụ kế toán ít nhất 5 năm hoăc đã qua chức vụ kế toán trởng đơn vị. Nói chung về mặt nghiệp vụ, KTVNB ít nhất phải tơng đơng kế toán trởng một đơn vị. Tuy nhiên trên thực tế , cán bộ về kiểm toán ở nớc ta cha có nhiều nên nhu cầu về KTV là rất lớn vàvẫn đang khan hiếm. Việc lập bộ phận KTNB lại phải hội đủ các tiêu chuẩn ở trên . Do vậy hiên nay một số DNNN có qui mô nhỏ rất khó khăn khi thành lập KTNB vì không có nhân sự theo tiêu chuẩn, nhất là chọn trởng phòng( trởng ban) KTNB. Điều này dẫn đến hiện tợng điều động, luân chuyển cán bộ không hợp lý. Rất nhiều kế toán viên vừa là ngời của bộ phận KTNB, vừa kiêm nhiệm cả công tác kế toán. Đây là vấn đề trái với nguyên tắc bất kiêm nhiệm trong qui chế KTNB. Hơn thế nữa, khi thành lập bộ phận KTNB thờng làm phát sinh tăng biên chế, chi phí, ảnh hởng đến hiệu quả hoạt đông sản xuất kinh doanh của DN. Vì thế, việc hình thành KTNB ở các DN nhỏ là rất khó và không mấy hiệu quả. Trong điểm 4, thông t 171/1998/TT-BTC lại bổ sung thêm tiêu chuẩn của kiểm toán viên: trờng hợp KTVNB cha có bằng đại học chuyên ngành kế toán, tài chính hoặc quản trị kinh doanh thì tối thiểu phải có trình độ từ trung cấp chuyên ngành kinh tế tài chính hoặc quải trị kinh doanh, đã công tác thực tế trong lĩnh vực quản lý tài chính kế toán ít nhất 5 năm, đã làm việc tại DN 3 năm trở lên nhng không thấp hơn trình độ nghiệp vụ chuyên môn của kế toán trởng DN đó. Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, qui định tiêu chuẩn KTVNB 16

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home