Sunday, March 27, 2016

Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Cổ phần Kiểm toán và Định giá Việt Nam thực hiện

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 xuất ra sao, quy mô của doanh nghiệp nh thế nào, hoạt động của doanh nghiệp ra sao. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng nhằm mục đích giúp kiểm toán viên hiểu đợc những căn cứ cho sự hiện diện của khách hành trong nền kinh tế nh doanh nghiệp thành lập theo quyết định nào, cơ quan nào cấp, laọi hình doanh nghiệp, laọi hình sở hữu, cơ cấu tổ chứcKiểm toán viên có thể thu thập từ các nguồn thông tin nh: Quyết định thành lập công ty, quy chế, nội quy công ty, Biên bản họp hội đồng quản trị, họp cổ đông, các hợp đồng kinh tế, các báo cáo ngành, phỏng vấn Ban giám đốc, nhân viên công ty. Tuy nhiên, việc thu thập các thông tin về đơn vị chỉ cho phép kiểm toán viên hiểu đợc doanh nghiệp theo chiều rộng mà cha hiểu đợc theo chiều sâu và nó chỉ hớng tới việc đa ra các bớc kiểm toán chứ cha đặt ra mục tiêu thu thập bằng chứng cho kết luận của kiểm toán viên. Trong kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất , kiểm toán viên cần thu thập thông tin về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, đặc điểm về chi phí sản xuất, các quy định về quản lý và kiểm soát nội bộ đối với chi phí sản xuất, các thông tin về phân cấp quản lý chi phí sản xuất tại đơn vị đợc kiểm toán. Ngoài ra, kiểm toán viên cần xem xét nội dung kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất của năm trớc (nếu có). Bớc 3: Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ là việc kiểm toán viên phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra xu hớng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin có liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến. Các thủ tục phân tích sơ bộ thờng đợc thực hiện ở cả 3 bớc là lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, kết thúc kiểm toán, trong đó ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, các thủ tục phân tích sơ bộ giúp kiểm toán viên nhận diện các vấn đề quan trọng đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt trong quá tình kiểm toán sau này. Ngoài ra, kiểm toán viên còn xác định đợc rủi ro tiềm tàng liên quan đến các khoản mục. Việc thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ bao gồm một số bớc từ xây dựng mục tiêu phân tích, thiết kế các thủ tục phân tích, tiến hành phân tích và đa ra kết luận. Xây dựng mục tiêu phân tích là nhằm kiểm tra các biến động và kiểm tra tính hợp lý của các thông tin thích đáng khác hay kiểm tra các biến động có chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến. Trên cơ sở mục tiêu phân tích, cần thiết kế các thủ tục phân tích. Các thủ tục phân tích đợc kiểm toán viên sử dụng gồm 2 loại: Phân tích ngang: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Các chỉ tiêu đợc sử dụng bao gồm: So sánh số liệu 11 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 của kỳ này với kỳ trớc, so sánh số liệu thực tế với định mức, so sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu chung của ngành. Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tơng quan qua chỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính. Các tỷ suất tài chính thờng dùng trong phân tích dọc có thể là các tỷ suất về khả năng thanh toán, các tỷ suất sinh lời.. Sau khi các thủ tục phân tích đợc thiết kế, kiểm toán viên tiến hành phân tích. Việc phân tích đó có thể cho kiểm toán viên biết về xu hớng tăng, giảm của thông tin, tính hợp lý của thông tin. Đối với phần hành chi phí sản xuất, kiểm toán viên tiến hành so sánh số liệu trên các sổ kế toán về chi phí sản xuất với số kế hoạch của đơn vị hoặc số liệu ớc tính của kiểm toán viên, so sánh số liệu về chi phí sản xuất của năm nay với năm trớc, sử dụng các tỷ suất nh: Tỷ suất lãi gộp = Tổng lãi gộp / Tổng doanh thu Tỷ lệ vòng quay hàng tồn kho =Tổng giá vốn hàng bán / Bình quân hàng tồn kho Bớc 4: Tìm hiểu sơ bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là một khoản chi phí chiếm tỷ trọng tơng đối lớn trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp (đặc biệt là đối với những doanh nghiệp sản xuất). Để có thể kiểm soát tốt chi phí sản xuất, các doanh nghiệp thờng thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ theo sự vận động của chi phí. Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp thờng bao gồm các yếu tố sau: Bộ phận quản lý sản xuất và các chính sách về quản lý sản xuất: Bộ phận quản lý sản xuất phải đảm bảo xuyên suốt từ trên xuống dới và phải đợc thiết lập từ bộ phận quản lý cấp cao nh: Phòng Kế hoạch, Phòng Quản lý sản xuất, Phòng Kiểm tra chất lợng, các phân xởng, tổ đội sản xuấtCác bộ phận và từng cá nhân trong bộ phận này cần đợc phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm trong công tác quản lý chi phí sao cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm quy trình công nghệ, phơng thức và trình độ quản lý của doah nghiệp. Các chính sách về quản lý sản xuất trong doanh nghiệp đợc xây dựng từ giai đoạn cung cấp các nguồn lực cho sản xuất đến giai đoạn kết thúc sản xuất, bao gồm: Chính sách về xuất vật t cho sản xuất nh: vật t xuất kho phải có phiếu yêu cầu sử dụng vật t và có sự phê chuẩn của bộ phận sản xuất Chính sách về theo dõi thời gian làm việc và chính sách tính lơng cho công nhân viên nh: tính lơng theo sản phẩm hoàn thành, theo thời gian. Đối với các doanh nghiệp lớn thì một yêu cầu cơ bản nhất là phải xây dựng đợc hệ thống tiêu chuẩn để kiểm soát chi phí. Doanh nghiệp phải xây dựng đợc định 12 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 mức kinh tế kỹ thuật về tiêu hao vật t và lao động cho từng loaị sản phẩm và từng công đoạn chế biến sản phẩm. Các định mức chi phí này luôn phải đợc thiết lập phù hợp với dây truyền công nghệ và đợc theo dõi định kỳ bởi bộ phận quản lý sản xuất. Các chi phí sản xuất thực tế phát sinh đợc so sánh với định mức nhằm phát hiện những biến động bất thờng để từ đó ra những quyết định kịp thời. Ngoài ra, để kiểm soát tốt đợc chi phí sản xuất, các doanh nghiệp cần có các quy định về việc ghi chép sổ sách tại các bộ phận sản xuất và các quy định về kiểm tra tại các tổ đội sản xuất. Hệ thống kế toán: Đây là yếu tố quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán chi phí, báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, các chính sách kế toán liên quan đến chi phí sản xuất. Chứng từ kế toán là vật mang tin, chứng minh cho nghiệp vụ kinh tế đã thực sự phát sinh và hoàn thành. Các chứng từ sử dụng trong hạch toán chi phí sản xuất bao gồm: Các chứng từ vật t: Yêu cầu sử dụng vật t, Phiếu xuất kho, Phiếu báo vật t còn lại Các chứng từ về tiền lơng: Bảng chấm công, Bảng thanh toán tiền lơng, tiền thởng, Phiếu bảo hiểm xã hội Chứng từ về tài sản cố định: Bảng tính khấu hao, Bảng phân bổ khấu hao. Các chứng từ dịch vụ mua ngoài: Hoá đơn tiền điện, tiền nớc. Ngoài ra, còn một số chứng từ khác nh Bảng phân bổ tiền lơng, Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ Các chứng từ này phải đợc lập một cách rõ ràng và trung thực, phản ánh đúng nội dung, bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh và tuân thủ theo đúng quy định về trình tự luân chuyển chứng từ. Các yếu tố trên chứng từ phải đảm bảo đầy đủ, gạch bỏ phần bỏ trống, không tẩy xoá, sửa chữa. Trong mọi trờng hợp, tính liên tục trên các chứng từ cần phải đợc tuân thủ. Phơng thức hạch toán chi phí sản xuất: Các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến chi phí sản xuất phát sinh phải đợc hạch toán đúng vào tài khoản trên cơ sở quy trình hạch toán nh sau: Hàng tồn kho Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đồ 01: Sơ phí hạch toán chidoanh dởxuất Chi đồ sản xuất kinh phí sản dang Sơ Kết chuyển chi phí Nhập kho hoặc gửi bán nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nguyên nhân công trực tiếp Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp Chi phí sản xuất chung Kết chuyển chi phí sản xuất chung Giá vốn hàng bán Tiêu thụ thẳng không qua kho 13 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Hệ thống sổ kế toán: Hiện nay có 4 hình thức ghi sổ là Nhật ký chung, Chứng từ ghi sổ, Nhật ký chứng từ, Nhật ký sổ cái. Tuỳ từng điều kiện thực tế, các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các hình thức sổ trên, đồng thời mở sổ chi tiết theo từng đối tợng tập hợp chi phí. Các sổ kế toán cơ bản về chi phí sản xuất bao gồm: Sổ cái, Sổ chi tiết về chi phí sản xuất, Bảng tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Các nguyên tắc cơ bản trong hạch toán chi phí sản xuất: Trong toàn bộ quá trình hạch toán chi phí sản xuất, doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán chung đợc thừa nhận do Hội đồng chuẩn mực của của Liên đoàn kế toán viên quốc tế ban hành, đặc biệt là bốn nguyên tắc cơ bản chi phí đối với chi phí sản xuất, đó là: Nguyên tắc chi phí: Việc tính toán chi phí và trình bày trên báo cáo tài chính phỉa dựa trên giá thực tế mà không quan tâm đến giá thị trờng. Nguyên tắc nhất quán: Việc sử dụng các phơng pháp tính giá, phơng pháp hạch toán chi phí phải thống nhất giữa các kỳ. Nguyên tắc phù hợp: Hạch toán chi phí phải đúng đối tợng chịu chi phí, đúng kỳ và phù hợp với thu nhập trong kỳ. Nguyên tắc thận trọng: Đảm bảo sự an toàn khi tính các khoản chi phí và thu nhập, trong đó thu nhập phải đợc đảm bảo chắc chắn, chi phí phải đợc tính tối đa. Những nguyên tắc trên là kim chỉ nam cho việc hạch toán chi phí và cần đợc xem xét trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào. Các thủ tục kiểm soát đối với chi phí sản xuất: Các thủ tục kiểm soát chủ yếu đối với khoản mục chi phí sản xuất trong doanh nghiệp đợc thiết lập chủ yếu dựa trên ba nguyên tắc sau: Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Theo nguyên tắc này, không cho phép cá nhân nào quản lý nghiệp vụ từ khâu đầu đến khâu cuối. Cụ thể là pphải phân công công việc giữa chức năng mua hàng, chức năng phê duyệt, chức năng nhập kho, ghi sổđể tránh tình trạng gian lận, đồng thời thông qua đó các chức năng có thể kiểm soát chéo lẫn nhau. 14 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Theo nguyên tắc này, cần tách bạch giữa công tác ghi sổ, công tác quản lý vật t, tài sản, theo dõi lao động và công tác thu chi trong doanh nghiệp. Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: Theo nguyên tắc này, tất cả các nghiệp vụ về thu, chi, xuất, nhập vật t, quyết định các vấn đề về tiền lơng, tiền thởng phải đợc cấp có thẩm quyền phê chuẩn. Việc tìm hiểu sơ bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là bớc quan trọng để đánh giá rủi ro kiểm toán và thu thập bằng chứng liên quan. Trong Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế ISA- 400 quy định rõ: Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm toán nội bộ của khách hàng để lên kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả. Kiểm toán viên phải sử dụng đến xét đoán chuyên môn để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định các thủ tục kiểm toán nhằm gỉam các rủi ro này xuống một mức có thể chấp nhận đợc. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400- Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ cũng có nêu: Kiểm toán viên phải có đợc hiểu biết đầy đủ về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ để đánh giá thái độ, mức độ quan tâm và sự can thiệp của các thành viên trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc với kiểm soát nội bộ và đánh giá khả năng của kiểm soát nội bộ của khách hàng trong việc ngăn ngừa, phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính. Để đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên tiến hành khảo sát quá tình kiểm soát thông qua các hình thức cơ bản sau: Phỏng vấn các nhân viên của Công ty, kiểm tra chứng từ, sổ sách, báo cáo, tham quan thực tế, lấy xác nhận, quan sát các thủ tục kiểm soát, làm lại các kiểm soát.. Căn cứ vào các ớc đoán về tính hiện hữu của kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát theo những cách thức khác nhau nh theo tỷ lệ %, theo mức độ cao, trung bình, thấp. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục chi phí sản xuất là hết sức cần thiết vì đó là cơ sở cho việc thiết kế các thủ tục kiểm tra chi tiết trong thực hiện kiểm toán chi phí sản xuất. Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khảon mục chi phí sản xuất đợc đánh giá là hữu hiệu nếu đảm bảo đợc độ tin cậy của các thông tin về chi phí sản xuất, bảo đảm thực hiện các quy định pháp lý về chi phí sản xuất, bảo đảm đợc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các vấn đề thờng đợc quan tâm về kiểm soát nội bộ đối với khoản mục chi phí sản xuất là: Doanh nghiệp có thiết lập các quy định về hạch toán chi phí sản xuất, các khoản chi có đúng thủ tục quy định không?, các chứng từ có dấu hiệu của kiểm soát nội bộ và có đúng mẫu quy định không?, có đối chiếu số liệu về chi phí sản xuất trên sổ cái 15 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 và sổ chi tiết thờng xuyên không?, các nghiệp vụ chi phí sản xuất phát sinh có đợc phê duyệt đầy đủ của cấp có thẩm quyền hay không. Bớc 5: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với khoản mục chi phí sản xuất Trọng yếu, xét trong quan hệ với nội dung kiểm toán, là khái niệm chỉ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội dung cơ bản của kiểm toán có ảnh hởng tới tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tợng kiểm toán và việc sử dụng thông tin đã đánh giá đó để ra quyết định quản lý. Việc xác định mức trọng yếu cho phép kiểm toán viên xác định những lĩnh vực quan trọng cần phải kiểm toán, nói cách khác là xác đinh rõ hơn tính chất, lịch trình và phạm vi kiểm toán. Để đánh giá mức trọng yếu, kiểm toán viên cần thực hiện các bớc sau: Ước lợng ban đầu về tính trọng yếu: Trong bớc này, kiểm toán viên đa ra mức trong yếu tối đa ớc lợng cho cả báo cáo tài chính của đơn vị. Khái niệm trọng yếu đợc đánh giá dới hai góc độ là quy mô (mặt lợng) và tính hệ trọng (mặt chất). Về quy mô: Bao gồm quy mô tuyệt đối và quy mô tơng đối. Chuẩn mực kiểm toán không đa ra mộ con số cụ thể nào về quy mô tuyệt đối của tính trọng yếu vì điều này sẽ rất khác nhau ở các khách hàng khác nhau. Quy mô tuyệt đối của tính trọng yếu hoàn toàn phụ thuộc vào xét đoán của kiểm toán viên. Quy mô tơng đối của tính trọng yếu đợc xem xét trong mối tơng quan với toàn bộ đối tợng kiểm toán và quy định về quy mô tơng đối cũng rất khác nhau giữa các công ty kiểm toán. Về tính hệ trọng: Tính trọng yếu đợc quyết định bởi bản chất của sai phạm nh: các sai sót lặp đi lặp lại, tích luỹ các sai sót nhỏ thành các sai sót lớn, các hành vi gian lận đều đợc coi là trọng yếu. Tiếp theo, kiểm toán viên cần phân bổ ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu cho từng khoản mục hay nhóm khoản mục. Các tài khoản có hai xu hớng sia sót là sai thừa và sai thiếu. Hai xu hớng này rất khác nhau giữa các tài khoản do phụ thuộc vào bản chất nghiệp vụ kinh tế liên quan đến tài khoản. Do đó, khi phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục, kiểm toán viên phải lu ý phân bổ cho cả 2 xu hớng này. Đối với khoản mục chi phí sản xuất, kiểm toán viên căn cứ vào các nhân tố có ảnh hởng đến tính trọng yếu đối với khoản mục chi phí sản xuất để đa ra mức sai số tối đa cho phép đối với khoản mục này. Thông thờng, chi phí sản xuất đợc phân bổ với mức trọng yếu cao bởi vì chi phí sản xuất thờng chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh, các nghiệp vụ về chi phí sản xuất thờng dễ xảy ra gian lận, sai sót. Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ ngợc chiều nhau, có nghĩa là mức trọng yếu càng cao thì rủi ro càng thấp và ngợc lại. Theo đó, khi xác định rủi ro kiểm toán, kiểm toán viên cần dựa vào việc đánh giá mức trọng yếu ở trên. Trong kiểm toán có các loại rủi ro là: 16

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home