Thursday, March 24, 2016

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY,THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Các vấn đề xã hội luôn luôn tiềm ẩn: Tội phạm, tệ nạn xã hội, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, ô nhiễm mội trường… Các thách thức về kinh tế luôn được đặt ra: Cung cấp dịch vụ, đất đai, nhà ở, đảm bảo công ăn việc làm, giao thông, đi lại… Cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh hoặc đã được quy hoạch và hoàn chỉnh từng phần, mật độ các công trình cao là những đặc trưng cơ bản của đô thị. Cơ sở hạ tầng, mật độ dân số cao và quy mô dân số là những yếu tố tạo ra những lợi thế, hiệu quả kinh tế về tính tập trung của đô thị. Cơ cấu lao động, sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa cao là tiền đề cơ bản của việc nâng cao năng suất lao động, là cơ sở đời sống kinh tế - xã hội của đô thị. Cấu trúc xã hội: Xã hội công nghiệp khác làng, xã, người dân đô thị gắn với cuộc sống thương mại, công nghiệp. 1.1.1.3 Phân loại đô thị Việc phân loại đô thị căn cứ vào Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009. Nghị định này thay thế Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 tháng 7 năm 2009, quy định như sau: Mục đích phân loại đô thị: Việc phân loại đô thị nhằm: 1. Tổ chức, sắp xếp và phát triển hệ thống đô thị cả nước. 2. Lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị. 3. Nâng cao chất lượng đô thị và phát triển đô thị bền vững. 4. Xây dựng chính sách và cơ chế quản lý đô thị và phát triển đô thị. Phân loại đô thị: Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận. 1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. 2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. 3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. 4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. 5. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. 1.1.2 Quản lý đô thị 1.1.2.1 Khái niệm quản lý đô thị Quản lý đô thị đã trở nên một chủ đề rất quan trọng đối với các chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế trên thế giới. Quản lý theo nghĩa rộng là làm cho các công việc được hoàn thành thông qua các nhân sự. Quản lý liên quan đến việc ra quyết định hoặc lựa chọn cách thức kế hoạch tổ chức, bảo vệ và sử dụng các nguồn lực có được để sản xuất hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho việc tiêu thụ, thương mại, hưởng thụ hoặc để xây dựng vốn và tài sản cho phát triển trong tương lai. Quản lý đô thị là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách của các chủ thể quản lý đô thi (các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các sở, ban ngành chức năng) vào các hoạt động đô thị nhằm thay đổi hoặc duy trì hoạt động đó. Trên góc độ Nhà nước, quản lý nhà nước đối với đô thị là sự can thiệp bằng quyền lực của mình (bằng pháp luật, thông qua pháp luật) vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị nhằm phát triển đô thị theo định hướng nhất định. Mục tiêu chung của quản lý đô thị là nâng cao hiệu quả và tính hợp lý trong quá trình sử dụng các nguồn lực của đô thị (con người, kĩ thuật, vật liệu, thông tin, dịch vụ cơ sở hạ tầng và hệ thống kinh tế của sản xuất). Cụ thể là: - Nâng cao chất lượng và sự hoạt động một cách tổng thể của đô thị - Đảm bảo sự phát triển và tái tạo bền vững của các khu vực đô thị. - Cung cấp các dịch vụ đô thị và cơ sở hạ tầng cơ bản để đáp ứng các nhu cầu chức năng của đô thị và các cư dân sống và làm việc trong đô thị đó, nhằm cải thiện chất lượng sống và sức khỏe của cư dân đô thị. 1.1.2.2 Các phương pháp và công cụ quản lý đô thị Thông thường người ta phân chia các phương pháp thành các nhóm như sau: - Các phương pháp hành chính: Là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan hệ tổ chức của cả hệ thống quản lý Nhà nước về đô thị và hệ thống kỉ luật của các tổ chức trong hệ thống thông qua các mệnh lệnh, văn bản quyết định hành chính mang cưỡng chế. - Các phương pháp kinh tế: Là các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để họ tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả cho tổ chức, xã hội và bản thân họ. - Các phương pháp đi vào tâm lý xã hội – giáo dục: Là các phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm, tâm lý nhằm thuyết phục, nâng cao nhận thức và tính tự giác của cán bộ công chức thực thi công vụ và đối tượng liên quan. Ngoài ra, có thể kể đến các phương pháp khác như: - Phương pháp quản lý theo mục tiêu. - Phương pháp kế hoạch cuốn chiếu. - Các phương pháp thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. - Các phương pháp thương thuyết. - Phương pháp quản lý thích nghi theo biến đổi của môi trường và theo xu thế khoa học hóa. Các công cụ quản lý như: - Luật pháp và các quy định dưới luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch hóa. - Tài chính: Cấp ngân sách và đầu tư tài chính, trang thiết bị, hạ tầng kĩ thuật. Các nguồn tài chính nước ngoài, các thuế và phí, huy động vốn trong nước. - Dùng công cụ truyền thông cho các lĩnh vực đô thị (ví dụ truyền thông môi trường, truyền thông văn hóa, truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình… 1.1.2.3 Nội dung quản lý đô thị Trong đô thị luôn tồn tại các nhu cầu ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, chữa bệnh, vui chơi giải trí,…Các nhu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn, và các nhu cầu mới thường xuyên phát sinh. Để đáp ứng các nhu cầu đó việc tổ chức xã hội đô thị một cách khoa học và việc quản lý các hoạt động trở thành một yếu tố khách quan. Quản lý là hoạt động mang tính kinh tế - xã hội, người ta cần tính đến hiệu quả của công tác quản lý. Vì hoạt động đô thị đa dạng và phức tạp, cần có sự lựa chọn, phân loại đối tượng quản lý một cách hợp lý. Các lĩnh vực của quản lý đô thị cần được quan tâm là: - Quản lý quy hoạch và kiểm soát phát triển đô thị. - Quản lý kinh tế đô thị. - Quản lý đất đai và nhà ở đô thị. - Quản lý dân số, lao động và việc làm trong đô thị. - Quản lý các công trình kết cấu hạ tầng đô thị. - Quản lý môi trường đô thị. - Quản lý văn hóa, xã hội đô thị. - Quản lý tài chính đô thị. 1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1.2.1 Tổng quan chung về kết cấu hạ tầng đô thị 1.2.1.1 Khái niệm kết cấu hạ tầng đô thị Toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc, dịch vụ xã hội như: đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nhà ga, xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn xăng dầu, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giải trí, rác thải môi trường đô thị,… được gọi là kết cấu hạ tầng đô thị. Như vậy, kết cấu hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị. Trên thực tế, kết cấu hạ tầng là cơ sở nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững của cả một hệ thống đô thị quốc gia nói riêng và sự phát triển bền vững của một quốc gia nói chung. Cho nên, người ta thường dùng thuật ngữ “cơ sở hạ tầng đô thị” với nội dung đồng nhất khi dùng thuật ngữ “kết cấu hạ tầng đô thị” hay “hạ tầng đô thị” . Cần phân biệt khái niệm thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” trong nghiên cứu kinh tế chính trị học Mác – Lê nin hay còn gọi là cơ sở kinh tế có nghĩa là tập hợp các quan hệ sản xuất, tạo thành cơ cấu kinh tế của một xã hội. Khái niệm “cơ sở hạ tầng” ở đây nằm trong mối quan hệ với kiến trúc thượng tầng tạo nên một hình thái xã hội tương ứng với nó. Còn khái niệm thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” của đô thị dùng để chỉ các công trình có ý nghĩa nền móng của đô thị như: đường sá, cầu cống, hệ thống cấp thoát nước, dịch vụ xã hội (dịch vụ công)...của đô thị. 1.2.1.2 Phân loại kết cấu hạ tầng đô thị Theo “Quy chuẩn xây dựng Việt Nam, quy hoạch xây dựng của Bộ Xây Dựng năm 2008” thì hạ tầng đô thị được chia ra làm hai loại: - Hạ tầng kĩ thuật đô thị gồm: + Hệ thống giao thông + Hệ thống cung cấp năng lượng + Hệ thống chiếu sáng đô thị + Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước + Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường + Hệ thống nghĩa trang + Các công trình hạ tầng kĩ thuật khác - Hạ tầng xã hội đô thị gồm: + Các công trình nhà ở + Các công trình công cộng, dịch vụ, y tế, văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao, thương mại và các công trình dịch vụ đô thị khác + Các công trình quảng trường, công viên, cây xanh, mặt nước + Các công trình cơ quan hành chính đô thị + Các công trình hạ tầng xã hội khác. Cách phân chia này dựa vào tính chất phục vụ của các hạ tầng đô thị và thuận tiện cho việc phân chia cấp quản lý, ngành quản lý. 1.2.2 Hệ thống giao thông đô thị 1.2.2.1 Khái niệm và phân loại hệ thống giao thông đô thị a. Khái niệm hệ thống giao thông đô thị Hệ thống giao thông đô thị (HTGTĐT) là tập hợp của mạng lưới đường, các công trình phục vụ giao thông và các loại phương tiện giao thông được sử dụng trong đô thị. Giao thông đô thị một mặt phải đảm bảo công tác vận chuyển và liên hệ thuận tiện, nhanh chóng giữa các bộ phận chức năng cơ bản của đô thị như: nơi ở, nơi làm việc, khu nghỉ ngơi, giải trí và các trung tâm của đô thị với nhau, mặt khác phải đáp ứng các nhu cầu vận chuyển và liên hệ giữa đô thị với các điểm dân cư khác ở xung quanh. Có thể nói giao thông đô thị là một bộ phận hết sức quan trọng trong thiết kế quy hoạch đô thị. Mạng lưới giao thông quyết định hình thái tổ chức không gian đô thị, hướng phát triển đô thị, cơ cấu tổ chức sử dụng đất đai và mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau (TS. Hồ Ngọc Hùng – Giáo trình Giao thông trong quy hoạch đô thị). b. Phân loại hệ thống giao thông đô thị Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể về quy hoạch và tổ chức giao thông phù hợp với nhiều lĩnh vực khác nhau của một chỉnh thể thống nhất là đô thị, HTGTĐT được phân loại theo nhiều đặc trưng khác nhau. b.1. Phân chia HTGTĐT theo mối quan hệ giữa giao thông với đô thị Khi xem xét mối quan hệ giữa giao thông với đô thị, HTGTĐT được phân thành hai mảng chính là giao thông đối ngoại và giao thông đối nội (hay còn gọi là giao thông nội thị). Giao thông đối ngoại gồm: các tuyến đường, các công trình đầu mối và những phương tiện được sử dụng để đảm bảo sự liên hệ giữa đô thị với bên ngoài và từ bên ngoài vào trong đô thị. Giao thông nội thị gồm: các công trình, các tuyến đường và các phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển trong phạm vi của đô thị, đảm bảo nhu cầu liên hệ giữa các bộ phận cấu thành của đô thị với nhau. b.2. Phân loại HTGTĐT dựa vào vai trò của các yếu tố cấu thành. - Hệ thống giao thông động có chức năng đảm bảo cho phương tiện và người di chuyển giữa các khu vực. Hệ thống giao thông động gồm mạng lưới đường sá, các công trình trên đường và các công trình khác. Hệ thống đường giao thông được phân loại theo chất lượng mặt đường: Bê tông, nhựa, đá, cấp phối, đất…, đồng thời được tổng hợp theo địa bàn phường, quận. Đường đô thị được sử dụng và khai thác vào các mục đích sau đây: +) Lòng đường dành cho xe cơ giới và xe thô sơ; +) Vỉa hè dành cho người đi bộ, để bố trí các công trình cơ sở hạ tầng kĩ thuật như: Chiếu sáng, cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, vệ sinh đô thị, các trạm đỗ xe, các thiết bị an toàn giao thông, để trồng cây xanh công cộng, cây bóng mát hoặc cây xanh cách ly, để sử dụng tạm thời trong các trường hợp khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép như: Quầy báo sách, buồng điện thoại

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home