Wednesday, March 23, 2016

Tranh dân gian Việt Nam

Bài kiểm tra giữa kỳ môn Lịch sử văn minh Việt Nam từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày ... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp. Tranh Đông Hồ - Đấu Vật Nguồn: www. vi.wikipedia.org Ngoài ra tranh được in rất công phu, in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; mỗi màu dùng một bản, và bản nét (màu đen) in sao cùng. Nhờ cách in này, tranh được sản xuất với số lượng lớn và không đồi hỏi kỷ năng cầu kỳ nhiều. Tuy nhiên, vì in trên ván gỗ một cách thủ công nên tranh bị hạn chế về kích thướt, thông thường các tờ tranh không lớn qua 50 cm mỗi chiều. Vào thế kỷ 16 tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết gồm có 5 loại là: Tranh thờ: bộ ngũ sắc; Tranh lịch sử: Hai Bà Trưng, Bà Triệu,…; Truyện tranh: Thánh Gióng, Truyện Kiều, Thạch Sanh…; Tranh chúc tụng: Vinh hoa – Phú quý, Nghi xuân, Gà đàn…; Tranh sinh hoạt: Đánh Ghen, Chăn Trâu Thổi Sáo, Nhà Nông, Đám Cưới Chuột…Với các bức tranh có phần chữ Hán đi kèm thì thì ý nghĩa sáng tỏ hơn bao giờ hết. Ví dụ như tranh Nhân nghĩa vẽ hình em bé ôm con Cóc có chú thích chữ “nhân nghĩa” ấy chính là lời cầu chúc cho các cháu bé được tặng tranh có được cái Nhân, cái Nghĩa như con Cóc trong truyện cổ: mình mẩy tuy có thể xấu xí, bé nhỏ song dám lên kiện cả ông trời để đòi mưa cho dân làng. Chính vì vậy tranh vẽ hình em bé ôm con Cóc một cách trìu mến. Không có sự giải thích nội GVHD: Nguyễn Thị Hiền SVTH: Quan Văn ÚT 2 Bài kiểm tra giữa kỳ môn Lịch sử văn minh Việt Nam dung tranh trở nên khó hiểu vì ai mà bồng bế một con cóc bao giờ. Các tranh khác, đặt biệt là tranh sinh hoạt thì có nhiều cách giải thích hơn, cho tới nay có những cách phân thích khác nhau hoàn toàn (ví như tranh Đánh ghen). Tranh Đông Hồ - Nhân Nghĩa Nguồn: www. vi.wikipedia.org Tranh Đông Hồ có đặc điểm thường là những hình ảnh sung túc như Đám cưới chuột, cảnh trai gái cùng nhau hái dừa, cánh cá chép nhiều màu vẩy đuôi…thể hiện mong muốn về sự sung túc. Từ cuối thế kỷ XIX đến 1944 là thời kì cực thịnh của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh. Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp….Không khí trong làng rộn ràng từ sáng đến tối suốt mấy tháng liền như thế. GVHD: Nguyễn Thị Hiền SVTH: Quan Văn ÚT 3 Bài kiểm tra giữa kỳ môn Lịch sử văn minh Việt Nam Mỗi năm, chợ tranh chỉ nhộn nhịp và tấp nập nhất vào tháng Chạp, họp 5 phiên vào các ngày 6, 11,16, 21 và 26. Bà con, du khách thập phương đổ về mua tranh đông vui, tấp nập. Hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang ra xếp gọn lại bán cho những lái buôn, hoặc bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình. Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất đi chờ đến mùa tranh năm sau lại mang ra chợ tranh bán. Đến chợ tranh làng Hồ không chỉ có khách buôn và mua tranh, mà có cả những người hâm mộ nghệ thuật tranh dân gian thích thăm thú, xem tranh và đi trảy hội mùa xuân. Tranh Đông Hồ - Đám Cưới Chuột Nguồn: www.thuvienkhoahoc.com Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình … Đôi khi những bức tranh Đông Hồ còn được những nghệ nhân trang trí kèm theo những từ chỉ dẫn hoặc những tứ thơ tình tứ, lãng mạn, cứ bóc tách từng lớp GVHD: Nguyễn Thị Hiền SVTH: Quan Văn ÚT 4 Bài kiểm tra giữa kỳ môn Lịch sử văn minh Việt Nam nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng và vô cùng độc đáo. Các nghệ nhân Đông Hồ đã chuyển hóa những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại vào tranh dân gian với những cách thể hiện rất riêng. Những ai đã yêu thích tranh Đông Hồ hẳn rất quen thuộc với các tranh gà: Gà mẹ con, gà đại cát, gà dạ xướng, kê cúc. Chẳng hạn bức "Gà thủ hùng". Theo sử sách xưa kể lại, vào khoảng năm 1915 cụ Chánh Hoàn gả con gái cho một anh Phán, Cụ Đám Giác ( tên thật là Nguyễn Thể Thức (1882 - 1943) là một nghệ nhân sáng tác nổi tiếng của Đông Hồ. Ngoài tranh về cuộc sống ở nông thôn cụ còn vẽ nhiều tranh truyện tranh phong cảnh, tranh tố nữ...) đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con. Tranh Đông Hồ - Gia Đình Gà Nguồn: http.img79.imageshack.us Bằng ngôn ngữ ước lệ, các con gà được cách điệu hóa, chúng sống động mà không cần giống thực. Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc - tạo nên sự nũng nịu. Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên - tạo nên tư thế chủ gia đình, che chở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc, đầm ấm trong một gia đình. Trên tranh có dòng chữ nôm "Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông" một lời chúc thật sâu sắc! Bức tranh này được xây dựng từ câu phương GVHD: Nguyễn Thị Hiền SVTH: Quan Văn ÚT 5 Bài kiểm tra giữa kỳ môn Lịch sử văn minh Việt Nam ngôn: "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh". Con trâu "đầu cơ nghiệp của nhà nông", cũng được các nghệ nhân Đông Hồ dành nhiều tâm huyết. Tranh cưỡi trâu thổi sáo có chữ: "Hà diệp cái thanh thanh" (Lọng lá sen xanh xanh). Một tàu lá sen dựng đứng như chiếc ô - ý tưởng thật thú vị. Con trâu nghển cổ thưởng thức tiếng sáo, tư thế, dáng vẻ của nó khiến ta cùng nghe thấy tiếng sáo réo rắt, thấy bầu trời trong xanh lồng lộng, thấy cuộc sống thanh bình... Tranh Đông Hồ - Chăn Trâu Thổi Sáo Nguồn: www.chuahoikhanh.com Tranh cưỡi trâu thả diều có chữ "Vũ thu phong nhất tướng" (Một hình ảnh gió thu múa). Một cậu bé nằm ngửa trên lưng trâu thả diều... thật thú vị. Một câu phương ngôn về trẻ chăn trâu: " Đầu đội nón mé như lộng che - Tay cầm cành tre như roi ngựa". Thực tế khó có thể nằm trên lưng trâu mà dong các diều bằng nón mê như vậy? Thế mà ngắm tranh ta vẫn thấy khoái! Bức tranh thả diều còn có hai dị bản khác, một bức có chữ "Vũ thu phong nhất dực" (gió thu múa, một cánh), bức kia có chữ "Nhất tương phúc lộc điền" (một hạnh phúc của nhà nông) - cũng thú vị không kém. GVHD: Nguyễn Thị Hiền SVTH: Quan Văn ÚT 6

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home