CHỈNH LÝ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠ TẺH - TỈNH LÂM ĐỒNG TỪ NĂM 2004 ĐẾN NAY
Ngành: Quản Lý Đất Đai SVTH: Nguyễn Xuân Thanh dụng đất, làm cơ sở cho định hướng quy hoạch và phân bổ hợp lý đất đai trên địa bàn huyện ĐạTẻh. - Nắm bắt được tình hình sử dụng đất tại địa phương, xác định nguyên nhân tăng giảm của từng loại đất, giúp các nhà quản lý nắm bắt được cơ cấu diện tích, vị trí các loại đất cụ thể tạo cơ sở cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của huyện. - Đảm bảo hồ sơ địa chính luôn phản ánh đúng với hiện trạng sử dụng đất. Nhà nước thường xuyên nắm chắc quỹ đất tạo cơ sở hoạch định quản lý thống nhất, có hiệu quả cao. Đặc biệt tránh tình trạng cấp trùng thửa trên nhiều GCNQSDĐ. I.2.2 Yêu cầu: - Các thông tin cập nhật phải đầy đủ, chính xác, phản ánh trung thực tình hình khách quan, không thêm bớt thửa, không tùy ý thêm chỉ tiêu loại đất, đối tượng sử dụng đất, phải đúng với hướng dẫn quy định. - Giữa bản đồ và hệ thống sổ bộ phải đảm bảo sự đồng bộ về thông tin và nội dung. - Số liệu chỉnh lý phải phản ánh đúng thực tế và sửa chữa kịp thời những sai xót trước đây. - Đảm bảo tính khoa học, đúng quy trình kỹ thuật, giữ nguyên được thông tin cũ, cập nhật được thông tin mới. - Chỉnh lý biến động đất đai chỉ được thực hiện sau khi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép biến động và cấp GCNQSDĐ hoặc chỉnh lý GCNQSDĐ đồng thời phải thực hiện đúng với quy định và hướng dẫn. - Khi thực hiện chỉnh lý biến động, phải thực hiện đồng bộ trên toàn bộ hồ sơ địa chính, đồng thời phối hợp đồng bộ giữa ba cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. I.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Quy trình chỉnh lý, cập nhập biến động đất đai trên địa bàn huyện ĐạTẻh-tỉnh Lâm Đồng. Hồ sơ địa chính. Số lượng hồ sơ cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai qua các năm 2005, 2006, 2007 đến nay. Các quy định quy phạm pháp luật liên quan, trang thiết bị phục vụ công tác cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai. Các loại hình biến động đất đai. I.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong 4 tháng, từ ngày 05 tháng 04 năm 2010 đến ngày 05 tháng 08 năm 2010. Phạm vi không gian: Nghiên cứu biến động đất đai trên địa bàn huyện ĐạTẻhtỉnh Lâm Đồng từ năm 2004 đến tháng 06 năm 2010 để chỉnh lý biến động. I.5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN Việc thực hiện đánh giá tình hình chỉnh lý biến động đất đai trên địa bàn huyện ĐạTẻh sẽ đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai chính xác hơn và đề xuất những phương hướng khắc phục nhược điểm trong công tác chỉnh lý biến động và hoàn chỉnh hồ sơ địa chính. Trang 2 Ngành: Quản Lý Đất Đai SVTH: Nguyễn Xuân Thanh PHẦN II: TỔNG QUAN II.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU II.1.1 Tình hình thiết lập và quản lý hồ sơ địa chính ở Việt Nam Ngành địa chính Việt Nam có hiệu lực từ triều đại vua Hồng Đức, gọi là bản đồ Hồng Đức. Bản đồ lúc bấy giờ vẽ khái quát các huyện có trong cả nước và ghi tên các quận, huyện. Đến triều Nguyễn, vua Gia Long lập địa bạ đến các làng, ghi chép đến xứ đồng, mỗi xứ có bao nhiêu ruộng công điền, ruộng tư điền, các mốc giới làng, tứ cận, hạng thuế, hàng năm đều có tu sửa sổ bộ. Giai đoạn trước năm 1930 đến năm 1945 Ngay khi thực dân Pháp sang xâm chiếm Việt Nam, năm 1886 Pháp thực hiện đo đạc vẽ bản đồ thành phố Sài Gòn. Năm 1888, Pháp thiết kế xong bản đồ quy hoạch mở rộng thành phố Sài Gòn. Năm 1887 lập Sở Địa Chính Sài Gòn, từ năm 1898 đến năm 1930 đo vẽ xong bản đồ giải thửa các làng ở Nam Kỳ, dựa vào các bản đồ giải thửa lập ra các tài liệu của chế độ quản thủ địa chính cùng với Lý trưởng, Chưởng bạ có quyền nhận thị thực các văn bản về ruộng đất trong các làng, chuyển dịch ruộng đất thì phải nộp phí cho cho Chưởng bạ. Sở địa chính lập ra từ năm 1931, các thư ký đạc điền đo vẽ lập các tài liệu địa chính như bản đồ, sổ địa chính, sổ điền chủ, sổ khai báo. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975 Thi hành sắc lệnh điền thổ được ban hành năm 1927 quy định đất đai là tài sản mà người dân có quyền sở hữu để mua bán, sang nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Đất đai được mua bán tự do nhưng phải chấp hành quy định của Nhà nước để thực hiện vào công trình công ích phúc lợi xã hội, mọi sự mua bán nhà, xây dựng, sửa chữa đều phải có sự chấp thuận của chủ đất. Chính sách “Người có ruộng cày” năm 1970 chỉ cho phép sở hữu 15 ha đất hương quả, còn người trực canh được quyền sở hữu đất 03 ha. Giai đoạn từ năm 1975 đến 1986 Thời kỳ này triển khai công tác đo đạc phân hạng và đăng ký thống kê đất trong cả nước theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/01/1980 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 56/QĐ-ĐKTK ngày 05/11/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất về việc ban hành quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất. Năm 1983 thực hiện chính sách hợp tác hoá gia nhập “Tập đoàn sản xuất” đã gây sáo trộn lớn về sử dụng đất. Việc phân chia ruộng đất được thực hiện theo phương thức bình quân nhân khẩu, độ tuổi lao động và khoán cho từng hộ gia đình. Năm 1986, phong trào hợp tác hoá giải thể, kinh tế hộ gia đình được coi là vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông lâm nghiệp nói riêng. Trong thời gian này, Nhà nước không cho phép sang nhượng, mua bán đất đai nhưng thực tế việc sang nhượng, mua bán bất hợp pháp vẫn xảy ra rất nhiều, nên Nhà nước không quản lý được công tác chỉnh lý biến động. Giai đoạn từ năm 1987 đến 1993 Trang 3 Ngành: Quản Lý Đất Đai SVTH: Nguyễn Xuân Thanh Năm 1987, Chính phủ ban hành luật đất đai đầu tiên. Giai đoạn 1993-2003 Chính phủ ban hành luật đất đai năm 1993 Các văn bản pháp luật và dưới luật chủ yếu như sau: Nghị định số 34/CP, Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC,… Giai đoạn 2003 đến nay Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004, quy định chặt chẽ và chi tiết công tác quản lý nhà nước về đất đai (13 nội dung so với 7 nội dung của Luật cũ). Tháng 11/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 181 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật đất đai. Công tác lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính hướng dẫn cụ thể trong Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004. Tuy nhiên trong quá trình quản lý đất đai xuất hiện nhiều bất cập, ngày 02/8/2007 Bộ Tài Nguyên & Môi Trường ban hành Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT thay thế Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT. II.1.2 Cơ sở khoa học II.1.2.1 Các vấn đề về hồ sơ địa chính Khái niệm hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính là hệ thống bảng tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách,…chứa đựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai được thiết lập trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu, đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất và phải đảm bảo tính thống nhất giữa bàn đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai, thống nhất giữa bản gốc và bản sao, thống nhất giữa hồ sơ địa chính với GCNQSDĐ và hiện trạng sử dụng đất. Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn gồm 3 bộ lưu ở cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh. Hồ sơ điạ chính gồm: Bản đồ địa chính GCNQSDĐ Sổ theo dõi biến động đất đai Sổ địa chính mục kê Sổ cấp GCNQSDĐ Tài liệu địa chính phục vụ thường xuyên hoặc hỗ trợ yêu cầu quản lý đất đai thường xuyên Bản đồ địa chính - Là loại bản đồ chuyên ngành quản lý đất đai, được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn nhằm phục vụ yêu cầu đăng ký, lập sổ bộ địa chính, cấp GCNQSDĐ, thống kê, kiểm kê đất đai, cập nhật chỉnh lý biến động, làm nền tảng để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất … Trang 4 Ngành: Quản Lý Đất Đai SVTH: Nguyễn Xuân Thanh - Bản đồ địa chính được lập theo chuẩn kỹ thuật thống nhất trên hệ thống tọa độ nhà nước. Nội dung bản đồ địa chính thể hiện thửa đất, hệ thống thủy văn, thủy lợi, hệ thống đường giao thông, mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, mốc giới hành lang an toàn công trình, điểm tọa độ dịa chính, địa danh và các ghi chú thuyết minh. Sổ địa chính - Là sổ ghi về người sử dụng đất, các thửa đất về người sử dụng đất đó đang sử dụng và tình trạng sử dụng đất của người đó. - Sổ được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Sổ mục kê - Là sổ ghi các thửa đất và các đối tượng chiếm đất nhưng không có ranh giới khép kín trên bản đồ và các thông tin có liên quan đến quá trình sử dụng đất để phục vụ nhu cầu thống kê diện tích, tra cứu bản đồ. - Sổ được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn cùng với việc lập bản đồ địa chính. Thông tin thửa đất và các đối tượng chiếm đất khác, trên sổ phải phù hợp với hiện trạng sử dụng đất. Thửa đất đã cấp GCNQSDĐ mà có thay đổi nội dung thông tin so với hiện trạng khi đo vẽ bản đồ địa chính phải chỉnh sửa cho thống nhất với GCNQSDĐ. Sổ theo dõi biến động đất đai Sổ được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn để ghi nhận những biến động về sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất. Sổ được lập nhằm mục đích theo dõi và quản lý chặt chẽ tình hình thực hiện đăng ký biến động làm cơ sở thống kê diện tích đất đai theo định kỳ. Sổ cấp GCNQSDĐ Giúp UBND cấp có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ theo dõi việc xét duyệt, cấp GCN đến từng chủ sử dụng đất. Sổ được lập trên cơ sở thứ tự của GCNQSDĐ đã cấp vào sổ. Cơ quan địa chính Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, cơ quan địa chính huyện chịu trách nhiệm lập và giữ sổ cấp GCNQSDĐ cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của cấp mình. GCNQSDĐ - Là giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. - Giấy chứng nhận gồm bốn trang, thể hiện đầy đủ nộp dung, tính pháp lý sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân và tổ chức. GCNQSDĐ được cấp theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với tấc cả các loại đất do Bộ TN-MT phát hành. Tài liệu gốc lưu trữ và tra cứu khi cần thiết Các tài liệu hình thành trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính: hồ sơ kỹ thuật thửa đất, sổ dã ngoại… Các tài liệu hình thành trong quá trình đăng ký ban đầu, đăng ký biến động đất đai và cấp GCNQSDĐ. Trang 5 Ngành: Quản Lý Đất Đai SVTH: Nguyễn Xuân Thanh II.1.2.2 các vấn đề về biến động đất đai Khái niệm biến động đất đai Biến động đất đai là sự thay đổi thông tin không gian và thuộc tính của thửa đất sau khi được xét duyệt cấp GCNQSDĐ và lập hồ sơ địa chính ban đầu. Các dạng biến động đất đai Căn cứ vào đặc trưng biến động đất đai, chia làm 2 dạng biến động chính: Biến động do thay đổi dữ liệu không gian: tách thửa, hợp thửa, thửa đất sạt lở tự nhiên, thay đổi ranh giới hành chính… Biến động do thay đổi dữ liệu thuộc tính: biến động này gắn liền với các quyền của người sử dụng đất. Các hình thức biến động đất đai Chuyển quyền sử dụng đất: + Chuyển đổi quyền sử dụng đất. + Chuyển nhượng quyền sử dụng đất. + Thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất. + Chuyển quyền sử dụng đất theo quyết định công nhận kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai của UBND có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ. + Chuyển quyền sử dụng đất theo quyết định hành chính giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của UBND có thẩm quyền. + Chuyển quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của tòa án nhân dân hoặc quyết định của cơ quan thi hành án. + Chuyển quyền sử dụng đất theo văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật. + Chuyển quyền sử dụng đất theo văn bản thỏa thuận xử lý nợ trong hợp đồng thế chấp bảo lãnh. + Chuyển quyền do chia tách, sát nhập tổ chức theo quyết định của cơ quan, tổ chức. Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ. Người sử dụng đất đổi tên. Biến động do sai sót nội dung thông tin trên GCNQSDĐ. Thay đổi mục đích, thời hạn sử dụng đất. Tách hoặc hợp thửa. Thửa đất sạt lở tự nhiên. Chuyển từ hình thức được nhà nước cho thuê đất sang hình thức được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất… II.1.2.3 Các hình thức chỉnh lý hoàn thiện hồ sơ địa chính Các loại hồ sơ địa chính cần chỉnh lý để hoàn thiện khi có biến động đất đai: Chỉnh lý bản đồ. Trang 6 Ngành: Quản Lý Đất Đai SVTH: Nguyễn Xuân Thanh Chỉnh lý GCNQSDĐ. Chỉnh lý hoàn thiện sổ bộ địa chính: Sổ theo dõi biến động. Sổ địa chính. Sổ mục kê. Sổ cấp GCNQSDĐ. II.1.3 Cơ sở pháp lý - Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10. - Luật đất đai ngày 26/11/2003. - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 19/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai. - Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về quy định bổ sung việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại đất đai. - Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. - Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. - Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. - Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21/6/2007 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp. II.1.4 Cơ sở thực tiễn Sau 25 năm xây dựng và phát triển, huyện Đạ Tẻh đang trên đà phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng. Chỉnh lý biến động đất đai là công tác thường xuyên và liên tục của cơ quan các cấp để nắm bắt, cập nhật và chỉnh lý để công tác quản lý Nhà Nước về đất đai được thực hiện tốt hơn. Từ đó, thực hiện công tác quy hoạch để phát triển. Dựa vào kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, 2010. Các nguồn tài liệu thống kê đất đai năm 2004, 2006 2007, 2008, 2009. Và các hồ sơ đăng ký biến động đất đai từ năm 2004 đến năm 2010 để tiến hành chỉnh lý biến động đất đai. II.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU II.2.1 Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Huyện Đạ Tẻh nằm về phía Tây-Nam tỉnh Lâm Đồng, trung tâm huyện lỵ cách QL20 khoảng 18 km và cách TP. Đà Lạt khoảng 180 km. Huyện được thành lập vào năm 1986 trên cơ sở tách từ huyện Đạ Huoai cũ. Tổng diện tích tự nhiên của huyện 52.419,64 ha, địa giới hành chính của huyện được xác định như sau: Trang 7

0 Comments:
Post a Comment
Subscribe to Post Comments [Atom]
<< Home