Friday, March 18, 2016

Những thành tựu và hạn chế về lý luận giá trị của các nhà kinh tế tư bản cổ điển, ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này

Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX 4. Lý Luận giá trị của ĐAVID RICARDO Sau khi ngẫu nhiên được biết đến tác phẩm kinh tế nổi tiếng của A.Smith, D.Ricardo đã đánh giá rất cao công trình này. Trong quá trình nghiên cứu của mình, ông đã đưa vào các kết luận của A.Smith và cố gắng phát triển triệt để chúng. Trước hết ông phân biệt rõ ràng và dứt khoát hơn hai thuộc tính của hàng hoá. Giá trị sử dụng được ông gọi là tính có ích của hàng hoá, là điều kiện cân đối với giá trị trao đổi, song không thể là thước đo của giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi của đại đa số hàng hoá (ở đây D.Ricardo loại trừ những hàng hoá không mang tính chất sản xuất như tranh cổ, hoặc rượu vang quá lâu năm) được D.Ricardo xác định bằng chi phí lao động sản xuất ra chúng. Song D.Ricardo đi xa hơn trong sự phân tích của mình. Ông coi giá trị trao đổi biểu hiện ở khối lượng hàng hoá khác (hoặc tiền), do đó trong hàng hoá tồn tại một giá trị tuyệt đối. Gía trị tuyệt đối này chính là kết tinh giá trị, chứa dựng một khối lượng nhất định. Giá trị trao đổi là một hình thái cần thiết cần thiết và duy nhất có thể biểu hiện giá trị tuyệt đối của hàng hoá. Tư tưởng này của D.Ricardo là rất sâu sắc và sau này được C.Mác phát triển. Tiếc thay, tư tưởng của D.Ricardo bị dứt đoạn, nó chỉ tồn tại như một nhận xét rời rạc, không kịp hoàn chỉnh trong một tác phẩm dự kiển của D.Ricardo về “giá trị tuyệt đối và tương đối”. - David. Ricardo đã gạt bỏ tính không triệt để, không nhất quan điểm về các xác định giá trị của A. Smith (giả thiết bàng lao động mua được). D.Ricardo kiên định với quan điểm: lao động là nguồn gốc giá trị, công lao to lớn của ông đã được đứng trên quan điểm đó để xác định lí luận khoa học của mình. Đồng thời ông cũng phê phán A. smith cho rằng giá trị là do các nguồn gốc thu nhập hợp thành. Theo Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX ông giá trị hàng hoá không phải do các nguồn thu nhập hợp thành mà ngược lại được phân thành các nguồn thu nhập. Về cơ cấu giá trị hàng hóa, ông cũng có ý kiến khác với sai lầm giáo diễn của A.Smith bỏ c ra ngoài giả thiết hàng hoá. Ông cho rằng : giả thiết hàng hoá không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra mà còn là lao động cần thiết trước đó nữa như máy móc, nhà xưởng ( tức ông chỉ biết có C1 - chỉ có đến Mã mới hoàn chỉnh được công thức tính giả thiết hàng hoá = c+vm.) - Ricardo đã có những nhận xét tiến gần đến lợi nhuận lq, ông cho rằng những tư bản có đại lượng = nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau. Nhưng cũng không chứng minh được vì ông hiểu được giá cả sản xuất. Theo ông sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị là ngoại lệ, trên thực tế chỉ có giá trị chứ không có giá cả sản xuất. Mã đã chỉ ra cơ cấu lẻ háo giá trị thặng dư thành lợi nhuận bg và giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất trong điề kiện tự do cạnh tranh. Từ đó Mã đã giải quyết được nhiều vấn đề mà các nhà kthh trước không vượt qua được. Trong vấn đề lợi nhuận bình quân, D.Ricardo đã nhận xét được khuynh hướng san bằng của tỷ xuất lợi huận giũa các ngành khác nhau, đã thấy được ảnh hưởng của tư bản sử dụng đối với việc hình thành giá cả và phần nào hiểu được cơ chế di chuyển của tư bản trong quá trình san bằng tỷ xuất lợi nhuận. Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tín dụng thời kỳ này, cùng với những kiến thức thực tế của D.Ricardo trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã giúp cho ông hiểu được rằng việc di chuyển tư bản được thực hiện không chỉ bằng con đường giản đơn, mà là chuyển các nhà tư bản từ ngành có lợi nhuận sang ngành có lợi nhuận cao, trên quy mô lớn hơn. Đó là con đường thu hẹp tư bản đi vay ở các ngành mang lại ít lợi nhuận và tăng cường chúng ở ngành có lợi cao. Rõ ràng là các vấn đề lý luận giá trị, D.Ricardo đã đi gần đến chỗ hoàn hảo. Đánh giá cao những cố gắng của D.Ricardo, C.Mác viết rằng: “Nếu D.Ricardo đi sâu hơn trong sự phân tích của mình thì ông đã có thể tìm ra rằng chính sự khác biệt Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX giữa giá trị với giá cả các chi phí là một điều có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều so với việc ông ta đi phân tích những thay đổi trong các giá cả đó bị ảnh hưởng bởi việc nâng cao hay hạ thấp mức tiền công như thế nào”. III. ĐÁNH GIÁ CHUNG 1. Thành tựu Kinh tế chính trị cổ điển là trường phái khoa học có nhiều đóng góp to lớn cho lịch sử chung của loài người. Trong số những thành tưu nổi bật của trường phái này, phải kể tới trước hết là phương pháp nghiên cứu khoa học. Sử dụng sức mạnh của phương pháp trừu tượng hoá, những người cổ điển đã phát hiện và đi sâu nghiên cứu, vạch rõ nhiều vẫn đề có tính quy luật nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mặt khác, lý luận kinh tế cổ điển được phân tích trên cơ sở được phân tích các phạm trù và khái niệm kinh tế vẫn còn nguyên giá trị cho tới ngày nay. Những đóng góp to lớn nhất về lý luận của trường phái cổ điển bao gồm giá trị - lao động, lý luận về tiền tệ, tiền công, lợi nhuận về địa tô. Công lao to lớn của các nhà kinh tế học cổ điển không chỉ thể hiện ở chỗ họ là những người đầu tiên đặt cơ sở khoa học cho việc phân tích các phạm trù về quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính việc phân tích sâu sắc và toàn diện các phạm trù và quy luật này của họ đã giúp cho nhiều nhà kinh tế sau này phát triển lý luận kinh tế tới những đỉnh cao rực rỡ. Những đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái cổ điển cũng đồng thời là những tên tuổi lớn nhất của lịch sử kinh tế học. Đặc biệt, chủ nghĩa cổ điển có thể được coi là đã thực hiện những bước cách mạng quan trọng nhất trong việc phân tích các quy luật của lền kinh tế thị trường nói chung, và cơ chế thị trường nói riêng trong chủ nghĩa tư bản. Điều đó có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế học hiện đại ở tất cả các nước đang thực hiện nề kinh tế thị trường, kể cả đối với nước ta trong điều kiện xác định định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế đó. Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX 2. Hạn chế Tui nhiên, trường phải cổ điển trong kinh tế học cổ điển có những hạn chế nhất định. Đó là tính chất hai mặt trong phương phát luận nghiên cứu - vừa sử dụng các nghiên cứu khoa học, khách quan để phân tích bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lại vừa bị ràng buộc bởi tính chất phi lịch sử trong việc đánh giá phương thức sản xuất này. hơn nữa cổ vũ một cách mạnh mẽ cho tự do kinh tế của thị trường và tuyệt đối hóa vai trò tự điều tiết của thị trường, những người cổ điển cũng chưa có thái độ khách quan và thực tế đối với việc xem xét vai trò kinh tế của nhà nước - điều mà chính thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng khan thể phủ nhận được. Trong khi cống hiến cho lý luận kinh tế học nhiều thành tựu xuất xắc, các nhà kinh tế học cổ điển cũng để lại nhiều quan điểm tầm thường mà những người kế thừa họ biến thành trào lưu tầm thường hoá và làm giảm giá trị của học thuyết cổ điển nói chung. Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX PHẦN III Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU Từ nền kinh tế bao cấp trì trệ bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đến hôm nay sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế nước ta đó cú những bước tiến vững vàng, tạo đà cho thế kỷ phát triển mới của đất nước. Trong hơn 20 năm qua, GDP của chúng ta đó tăng trưởng 7,5-8% mỗi năm. Chúng ta đó chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường và chúng ta đó thành công trong việc hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới. Thành công nhất đối với Việt Nam là trở thành thành viên của WTO và việc Việt Nam ký kết một loạt hiệp định hợp tác thương mại song phương với hầu hết các nước và các vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong quá khứ, chúng ta đó theo đuổi mô hình kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu. Sau 20 năm cải cách, chúng ta đó đạt được sự tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục... Phúc lợi xã hội đó đến được với người nghèo và người nghèo được hưởng lợi từ sự phát triển. Tỷ lệ đói nghèo trong dân số đó giảm từ 60% trong năm 1993 xuống 14% và Việt Nam cũng đã đạt được hầu hết các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Thành tích nổi bật là tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12 năm trước đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đó giúp phần làm cho quy mô kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839 USD/người. Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được mục tiêu thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm tới. Chúng ta đó đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng, kinh tế xã hội tăng trưởng nhanh, cơ sỡ vật chất kỹ thuật được tăng cường, đời sống nhân dân không Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Tiểu luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế thế kỷ XVI - XIX ngừng được cải thiện. Tốc độ tăng trường kinh tế cao, năm vừa rồi là 8.5%. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể, nguồn lực phát triển trong các ngành, các vùng đó được phát huy. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện. Thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đảng đó quan tâm đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước. Luật doanh nghiệp nhà nước ra đời cho thấy sự tiến bộ rừ ràng về mặt quản lý kinh tế. Cho đến những năm gần đây, doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta: năm 2000 doanh nghiệp Nhà nước đóng góp 39.5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu, 39.2% tổng thu ngân sách nhà nước. Kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã đã được đổi mới theo luật, chính sách Đảng và nhà nước. Các hợp tác xã đã chứng tỏ được rõ hơn vai trò, vị trí đối với kinh tế hộ gia đình trong sản xuất hàng hóa, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nhà nước. Từ năm 1988, hộ gia đình nông dân đó tự mình quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, bán cho ai và tự quyết định cả giá bán. Địa vị nói trên của hộ gia đình không chỉ là kết quả của các biện pháp đổi mới kinh tế hợp tác, chế độ quản lý đất đai, mà cả cỏc biện pháp cải cách vĩ mô như về giá cả, về thị trường… Đẩy mạnh khu vực tư nhân: sau nhiều năm phân biệt đối xử với khu vực tư nhân, chính phủ đó hoàn toàn thay đổi cách đối xử và giờ đây nó khuyến khích khu vực tư nhân. Những đạo luật về các công ty và doanh nghiệp tư nhân đó chính thức thừa nhận khu vực đó có một thời kỳ là khu vực không chính thức này. Kinh tế tư nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, nhất là sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000. Đến nay cả nước đó có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân mà đóng góp quan trọng nhất của kinh tế tư nhân là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội từ nông dân thành công nhân, nhân viên văn phòng… Điển hình là công ty cà phê Trung Nguyên, một công ty tư nhân Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home