236858
1.2.3. Quy trình thanh tra đất đai Quy trình 4 bước: * Bước 1: Ra quyết định thanh tra Quyết định thanh tra là thủ tục hành chính bắt buộc, là căn cứ pháp lý để đối tượng thanh tra và đoàn thanh tra phải thực hiện. Tại Khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh thanh tra quy định “Thủ trưởng cơ quan, thủ trưởng các tổ chức thanh tra có quyền ra quyết định thanh tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thẩm quyền được pháp lệnh quy định”. Như vậy, đối với Sở Tài nguyên và thanh tra Sở có thẩm quyền ra quyết định thanh tra. Căn cứ vào công tác quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định của pháp Luật đất đai, để chọn đối tượng thanh tra và nội dung thanh tra. Trong quyết định thanh tra cần nêu rõ: Mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra, nội dung cần thanh tra, cử người tham gia đoàn thanh tra, nhiệm vụ giao cho Đoàn hoặc thanh tra viên thực hiện. Người ra quyết định thanh tra phải thường xuyên chỉ đạo đoàn thanh tra, giải quyết kịp thời các đề nghị của đoàn, theo dõi việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý của Đoàn thanh tra, khi cần có thể sửa đổi, bổ sung và ngừng thi hành quyết định thanh tra. * Bước 2: Chuẩn bị thanh tra Việc chuẩn bị thanh tra gồm nhiều nội dung, tài liệu có liên quan đến cuộc thanh tra như đề cương, kế hoạch, quy chế làm việc, các thủ tục hành chính và điều kiện làm việc, dự trù kinh phí… * Bước 3: Tiến hành thanh tra Bước tiến hành thanh tra và kết luận thanh tra là hai bước quan trọng nhất và khó khăn nhất. Việc làm rõ đúng sai, có thành tích hay khuyết điểm, nguyên nhân chủ quan, khách quan có lỗi hay có dấu hiệu phạm tội, trách nhiệm thuộc về ai… đều phụ thuộc vào kết quả của bước này. Khi tiến hành thanh tra đòi hỏi ở Đoàn cũng như từng thành viên của đoàn một thái độ vô tư, khách quan, chính xác, chỉ tuân theo pháp luật, đồng thời phải nắm vững nhiệm vụ của đoàn cũng như từng đoàn viên trong đoàn được quy định tại qui chế hoạt động đoàn thanh tra ban hành, kèm theo Quyết định số: 1176/TTNN của Tổng Thanh tra Nhà nước. 11 Thành viên Đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm trước người ra quyết định thanh tra về việc thực hiện nhiệm vụ được giao, (Điều 32 Pháp lệnh), mặt khác đương nhiên phải thể hiện đầy đủ trách nhiệm về phần việc mà trưởng Đoàn giao. Hoạt động Đoàn thanh tra theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thành viên trong đoàn phải chấp nhận quyết định của trưởng đoàn, song được bảo lưu ý kiến và báo cáo với người ra quyết định. * Bước 4: Kết thúc thanh tra Có kết luận thanh tra chính thức chưa phải đã kết thúc thanh tra, mà khi kết luận thanh tra được thực hiện thì cuộc thanh tra mới kết thúc. Nội dung bước này gồm: Trình báo cáo kết luận thanh tra lên người ra quyết định. Công bố kết luận thanh tra. Khi công bố phải có biên bản, phải chọn địa điểm và thời gian công bố cho phù hợp, lĩnh hội kết luận thanh tra phải đúng đối tượng. Thủ trưởng cơ quan ra quyết định thanh tra tiến hành xem xét giải quyết, xử lý vi phạm hành chính và kinh tế theo yêu cầu của đoàn. Theo dõi, giám sát kiểm tra thi hành các kết luận và xử lý sau thanh tra. 1.3. QUAN ĐIỂM CẦN QUÁN TRIỆT KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI - TỐ CÁO 1.3.1. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Quan điểm này được nêu trong Hiến pháp năm 1980, hiến pháp năm 1992 và nêu trong LĐĐ năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và đến nay được nêu tại khoảng 2 Điều 10 của LĐĐ năm 2003 quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. 1.3.2. Lấy dân làm gốc để giải quyết Dựa vào dân, bàn bạc dân chủ, công khai, tăng cường giải quyết ở cơ sở và tăng cường hòa giải trong nhân dân, giáo dục, giải thích, thuyết phục, giải quyết có lý, có tình, không mệnh lệnh, gò ép. (Bùi Quang Nhơn, 2000) 12 1.3.3. Đảm bảo người làm nông nghiệp có đất sản xuất, mọi người có nơi ở Khi giải quyết, không để người sử dụng đất tích cực bị thiệt thòi, chiếu cố đến người định canh, định cư. 1.3.4. Không “rũ rối” tránh lây lan Không dễ giải quyết toàn bộ, mà phát sinh đến đâu giải quyết đến đó, giải quyết dứt điểm, cố gắng giữ ổn định tình hình sử dụng đất để phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho nhân dân, nhất là trong trường hợp trả lại đất cũ và đền bù giải phóng mặt bằng. Nhưng không thể vì thế mà bỏ qua các trường hợp bất hợp lý, ảnh hưởng đến sản xuất, đến đời sống của người dân, ảnh hưởng đến sự đoàn kết trong nhân dân. 1.3.5. Kết hợp hài hoà giữa căn cứ pháp luật với thực tiễn, giữa chính sách đất đai với chính sách xã hội khác Căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất là vấn đề rất quan trọng, là một trong những yếu tố đảm bảo cho việc thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai trong từng địa phương cũng như trong toàn quốc. Nhưng chỉ có căn cứ pháp lý thì chưa đủ, mà cần thiết phải có các yếu tố thực tế để quyết định giải quyết phù hợp pháp luật, có lý, có tình, được dư luận đồng tình ủng hộ. Trong khi giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất còn phải có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách đất đai với chính sách xã hội khác như: chính sách với người có công với cách mạng, chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, chính sách dân tộc, tôn giáo... 1.3.6. Mọi người, mọi tổ chức sử dụng đất đều bình đẳng trước pháp luật Khi giải quyết không thiên vị, đảm bảo công bằng trước pháp luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất, song cũng xử lý nghiêm minh những vi phạm về quản lý sử dụng đất. 1.4. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ NHỮNG HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI 1.4.1. Khái niệm khiếu nại Theo Điều 2 của Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 được sửa đổi bổ sung năm 2004 và 2005 quy đinh như sau: Khiếu nại là việc công dân yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bảo vệ hoặc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình do bị xâm phạm do những quyết 13 định hành chính hoặc vi phạm hành chính của cơ quan Nhà nước hoặc nhân viên Nhà nước gây ra. 1.4.2. Khái niệm tố cáo Theo Theo Điều 2 của luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 được sửa đổi bổ sung năm 2004 và 2005 quy đinh như sau: Tố cáo là sự phát hiện với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những hành vi trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các đơn vị đó hoặc của những người khác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ví dụ: - Tố cáo về việc UBND xã bán đất trái phép - UBND huyện giao đất không đúng mục đích, làm hủy hoại đất đai… 1.4.3. Quyền khiếu – tố của công dân Khiếu nại, tố cáo là quyền lợi của công dân được pháp luật ghi nhận. Điều 74 của hiến pháp năm 1992 quy định: “công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất kỳ cá nhân nào. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự ”. Theo Điều 1 của Luật KNTC năm 1998 được SĐBS năm 2004 và 2005 quy định như sau: 1- Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái với pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. 2- Công dân có quyền tố cáo với cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe 14 doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Trong quan hệ pháp luật đất đai, người sử dụng đất được Nhà nước bảo vệ khi bi người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; được bồi thương thiệt hại về đất khi bị thu hồi; được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai. Như vậy, quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật quy định. Công dân và người sử dụng đất có thể thực hiện quyền đó bằng nhiều hình thức: gửi đơn, trực tiếp đến trình bày hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của mình để đề bạc nguyện vọng, ý kiến trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu xét và giải quyết. 1.4.4. Nghĩa vụ khiếu – tố của người công dân Công dân và người sử dụng đất phải chịu trách nhiệm về nội dung khiếu tố của mình. Yêu cầu việc khiếu tố phải rõ ràng, có chứng lý và trung thực. Hiến pháp còn quy định rõ: “Nghiêm cấm việc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”. Nói tóm lại, nguyên nhân phát sinh khiếu nại là khi quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại bị xâm phạm còn nguyên nhân phát sinh tố cáo rộng hơn. Hành vi cần phải tố cáo không chỉ xâm phạm đến quyền của công dân mà còn gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác. Do đó khiếu nại tố cáo vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của công dân trước xã hội đối với những hành vi vi phạm pháp luật đất đai nói riêng. 1.4.5. Xét và giải quyết khiếu – tố của cơ quan có thẩm quyền Các khiếu tố đối với nhân viên và nội dung liên quan đến trách nhiệm quản lý của cơ quan thì cơ quan nào thì thủ trưởng của cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Khiếu nại đối với các quyết định hoặc việc làm của thủ trưởng của cơ quan nào thì thủ trưởng của cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo nhân viên mà nội dung có liên quan đến trách nhiệm quản lý của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo thủ trưởng thì thủ trưởng cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết. 15 Các tổ chức thanh tra, thanh tra viên và cán bộ thanh tra của cơ quan tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo của công dân và kiến nghị với thủ trưởng cơ quan mình giải quyết khiếu nại, tố cáo. 1.4.6. Những nguyên tắc cơ bản trong quá trình xét – giải quyết khiếu tố đất đai (Bùi Quang Nhơn, 2000) Phải thật sự khách quan, thận trọng và công tư. Nguyên tắc này đòi hỏi nhìn nhận sự việc một cách trung thực, không phục thuộc vào ý muốn của các bên đương sự. Kết hợp giải quyết khiếu tố về đất đai với việc giáo dục thiết phục, tuyên truyền phổ biến pháp luật đất đai, thông qua quá trình này làm cho mọi người hiểu, thừa nhận và nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của cơ quan đã giải quyết khiếu tố. Giải quyết kịp thời, nhanh chóng ngăn chặn và loại bỏ các hành vi vi phạm pháp luật đất đai. 1.5. MỘT SỐ VĂN BẢN LUẬT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THANH TRA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ĐẤT ĐAI Luật Đất đai năm 1993 sửa đổi bổ sung 1998, 2001 Điều 13: Nội dung quản lý Nhà nước về đất Điều 37: Các tổ chức thanh tra; Nội dung thanh tra đất; Quyền Khi tiến hành thanh tra đất đai, đoàn thanh tra, thanh tra viên. 3 Luật khiếu nại, tố cáo: công tác thanh tra đất đai cũng được quy định tại một số điều của Luật KNTC Điều 11: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra trong việc KNTC Điều 26: Thẩm quyền của Tổng thanh tra Nhà nước. Điều 27: Thẩm quyền của Chánh thanh tra cấp tỉnh, chánh thanh tra cấp huyện Điều 31: Quy định Thời hiệu khiếu nại. Điều 62: Thẩm quyền Chánh thanh tra các cấp. Điều 63: Thẩm quyền Tổng thanh tra Nhà nước. Điều 76: Trách nhiệm tổ chức tiếp dân. Điều 81: Quản lý Nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Điều 82: Thẩm quyền cơ quan trong về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. 16

0 Comments:
Post a Comment
Subscribe to Post Comments [Atom]
<< Home