Thursday, March 17, 2016

Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long

với liều lượng nhiều hơn. Tuy nhiên, nó cũng chính là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường đất, nhất là khi chúng ta không sử dụng đúng với liều lượng khuyến cáo, dẫn đến hiện tượng đất bị chua hóa, hàm lượng các chất vôi giảm, kết cấu đất kém, hoạt động của các vi sinh vật trong đất giảm, có sự tích động nitrat kim loại nặng một số vùng. Sự lạm dụng hoặc sử dụng phân bón không đúng cách dĩ nhiên có thể tạo các ảnh hưởng bất lợi cho đất như gây mặn cho đất, kém thoát thủy và tưới thừa (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004). Khi cung cấp đạm cây chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa 30%, số còn lại bị rửa trôi, phần thì nằm trong đất. Nếu cây trồng được bón phân đầy đủ sẽ tạo ra hệ thống rễ nhiều hơn và lượng dư thừa thực vật được phân hủy sẽ góp phần cải thiện cấu trúc đất, hàm lượng hữu cơ và khả năng giữ nước, và do dó nó cải thiện độ phì nhiêu đất. Ngược lại lượng phân hóa học được bón vào đất không được cây trồng hút hoàn toàn. Một số lượng dưỡng chất được giữ lại trong đất và tiếp tục cung cấp cho cây trồng vụ sau, một số bị chảy tràn hoặc rửa trôi do mưa (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004). Khi tích lũy các hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho đất về mặt cơ lý tính, đất nén chặt, độ trương co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà trở nên chai cứng, vi sinh vật ít đi và bị hóa chất hủy diệt (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999). 1.4. Các tính chất vật lý đất trên đất trồng rau màu 1.4.1 Thành phần cơ giới Thành phần cơ giới là tỷ lệ giữa các cấp hạt cát, thịt, sét trong đất (Henry D.Foth, 1990). Theo Trần Kông Tấu (2005), thành phần cơ giới (còn gọi là thành phần cấp hạt) của đất là hàm lượng phần trăm (%) của những nguyên tố cơ học có kích thước khác nhau khi đoàn lạp đất ở trong trạng thái bị phá hủy. Thành phần cơ giới khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau về tỷ trọng, dung trọng đất, tính kết dính, khả năng hấp phụ trao đổi ion và khả năng dự trữ dinh dưỡng trong đất (Mai văn Quyền và ctv, 2005). Đất có thành phần cơ giới nặng, giàu cấp hạt sét làm cho khả năng giữ nước của đất tốt, hấp phụ được nhiều chất dinh dưỡng, có khả năng chống rửa trôi. Ngược lại, đối với những loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo cấp hạt sét, chủ yếu là cấp hạt thô, khả năng giữ nước, hấp thu những chất dinh dưỡng kém, độ thấm cao, các chất dinh dưỡng dễ bị rửa trôi...có thể nói thành phần cơ giới là một trong những yếu tố quyết định độ phì nhiêu của đất (Trần Kông Tấu, 2005). Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cấp hạt nhỏ nhiều nên đất sét tốt hơn đất cát. Ở đất có tỉ lệ hạt nhỏ, về cơ bản là giàu dinh dưỡng là do khả năng giữ dinh dưỡng của nó tốt hơn đất có tỉ lệ cát cao. Tuy nhiên, nếu đất sét không được bổ sung dinh dưỡng và không có biện pháp bảo vệ thì vẫn bị thoái hóa (Trần Trọng Nghĩa, 2004). Về tính chất vật lý nước và cơ lý đất cho thấy khi kích thước hạt giảm đã làm giảm tốc độ thấm nước, tăng tính mao dẫn, tăng tính trương co, tăng lượng hút ẩm lớn nhất và tăng sức dính cực đại. Thành phần và tính chất hóa lý của các cấp hạt khác nhau thì khác nhau đã dẫn đến sự thay đổi quan trọng về tính chất trong đất khi có các tỉ lệ cấp hạt khác nhau (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999). Theo Lê Văn Khoa (2004), thì sự suy thoái về cấu trúc thường xảy ra ở các vùng có vũ lượng cao, thường hay ngập lũ, bơm tưới nhiều trong canh tác, đất dễ bị gley giả và hệ thống thoát nước kém. Đối với đất có tỷ lệ sét cao, hàm lượng chất hữu cơ thấp và thời gian canh tác càng lâu thì tình trạng nén dẽ của đất dễ dàng xảy ra (Võ Thị Gương, 2004). 1.4.2. Phân loại đất theo thành phần cơ giới Việc phân loại đất theo thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng nhất là việc ứng dụng trong sản xuất. Nông dân khi canh tác trên đất đã biết phân ra: cát, cát pha thịt, đất sét,…vì mỗi loại như vậy lại thích hợp cho mỗi loại cây trồng nhất định. Trên thế giới có rất nhiều bảng phân loại đất theo thành phần cơ giới nhưng có các dạng phân loại: theo Mỹ, Liên Xô (cũ), và quốc tế (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999). Bảng 2. Phân loại đất theo thành phần cơ giới của Liên Xô (cũ) (Theo N.A.Kasinsky) Tên gọi % Sét vật lý Đất Đất đỏ potzon vàng thảo Đất cát rời 0-5 nguyên 0-5 Đất cát dính 5-10 Đất cát pha % Cát vật lý Đất mặn Đất Đất đỏ potzon vàng thảo 0-5 100-95 nguyên 100-95 100-95 5-10 5-10 95-90 95-90 95-90 10-20 10-20 10-25 90-80 90-80 90-85 Đất thịt nhẹ 20-30 20-30 15-20 80-70 80-70 85-80 Đất thịt trung bình 30-40 30-45 20-30 70-60 70-55 80-70 Đất thịt nặng 40-50 45-60 30-40 60-50 55-40 70-60 Đất sét nhẹ 50-65 60-75 40-50 50-35 40-25 60-50 Đất sét trung bình 65-80 75-85 50-65 35-20 25-15 50-35 Đất sét nặng >80 >85 >65 100 chiếm 45% trong tổng số các vị trí nghiên cứu đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long tập trung các vùng Trà Vinh, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long. Tính bền cấu trúc đạt giá trị ở mức từ > 50 và < 100 chiếm 50% trong tổng số các vùng trồng rau màu được nghiên cứu. Và tính bền đạt giá trị ở mức thấp 50%) chiếm 60% trong tổng số các vị trí nghiên cứu đất trồng rau màu. * Tính bền cấu trúc trên các vùng đất canh tác rau màu có sự biến đổi khác nhau đối với các vùng canh tác khác nhau.Tính bền đạt giá trị cao nhất là tại vị trí lấy mẫu Long Mỹ - Hậu Giang (145,0) và thấp nhất là tại Lấp Vò - Đồng Tháp (43,0). Tính bền cấu trúc có giá trị > 100 chiếm khoảng 45% tập trung tại Châu Thành và Chợ Gạo – Tiền Giang, Bình Thủy 2, Phong Điền – Cần Thơ, Cai Lậy – Tiền Giang, Long Mỹ - Hậu Giang. * Sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và phần trăm sét có mối tương quan chặt theo phương trình y=1,8548x +15,291; R2 = 0,6557; điều này cho thấy khi hàm lượng sét tăng cao thì tính bền cấu trúc cũng gia tăng. * Khi trong đất hàm lượng cát và thịt gia tăng thì tính bền cấu trúc sẽ giảm theo phương trình nghịch biến y= -1,8548x + 200,77; R2 = 0,6557. Sự tương quan này chủ yếu phụ thuộc vào hàm lượng thịt trong đất vì hàm lượng cát trong đất ở các vị trí nghiên cứu không cao. * Tính bền cấu trúc còn phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng chất hữu cơ trong đất, thể hiện qua sự tương quan thuận theo phương trình y =15,412x +62,605; R2 =0,5023. Hơn nữa, trong đất nếu có hàm lượng sét cao kết hợp với hàm lượng chất hữu cơ cao và kỷ thuật làm đất phù hợp thì đoàn lạp trong đất sẽ bền tránh được sự đóng váng bề mặt. Do đó, trong canh tác rau màu rất cần thiết để bổ sung hàm lượng chất hữu cơ vào đất bằng cách bón phân hữu cơ, tăng độ tơi xốp của đất giúp đất thoáng khí tạo điều kiện cho vi sinh vật hoạt động tốt nhất, từ đó nâng cao được tính bền của đất. 4.2. KIẾN NGHỊ * Cần nghiên cứu sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và mức độ đóng váng kết cứng bề mặt của đất trồng rau màu. * Nên thực hiện nghiên cứu trên nhiều vị trí khác để có thể đưa ra một đánh giá chung về tính bền cấu trúc cho đất ở Đồng bằng sông Cửu Long. * Trong canh tác thâm canh cần chú ý khuyến cáo nông dân bón phân hữu cơ để đất không bị thoái hóa.

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home