Phân tích vai trò, nhiệm vụ, thành phần của không quân
- Trinh sát đờng không. - Tham gia xây dựng kinh tế. - Thực hiện nhiệm vụ quốc tế. Trong nhiệm vụ tiến công trên mặt đất, máy bay đợc sử dụng vào ba nhiệm vụ chủ yếu: yểm trợ từ trên không, chia cắt chiến trờng và tiến công các mục tiêu chiến lợc. 3. Thành phần của không quân Về nguyên tắc tổ chức, không quân đợc chia thành các thành phần nh sau: Không quân Không quân của quân chủng không quân Không quân của Lục Quân Không quân của Hải Quân Tuy nhiên xét về thành phần, không quân của nớc ta chỉ có một loại duy nhất. Đó là không quân của quân chủng phòng không không quân. Không quân của phòng không 4. Không quân nhân dân Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc a)Sự hình thành và phát triển Lực lợng không quân của ta mới chỉ đợc bắt đầu xây dụng từ tháng 10 năm 1954 sau khi chúng ta tiếp quản các sân bay của Pháp tại miền Bắc. Ngày 3 / 3/1965, đại tớng Võ Nguyên Giáp, bộ trởng Bộ quốc phòng ký quyết định thành lập Ban nghiên cứu sân bay, đến năm 1958 mới đổi tên thành cục không quân. Ngày 1/5/1959, đội bay vận tải đầu tiên ra đời tại sân bay Gia Lâm (sau này là Trung đoàn không quân vận tải 919). Ngày 30/5/1963, trung tớng Hoàng Văn Thái (thứ trởng Bộ quốc phòng) ký quyết định thành lập trung đoàn không quân chiến đấu đầu tiên tại Việt Nam lấy tên là trung đoàn 921. Ngày 3/2/1964, lễ ra mắt chính thức trung đoàn không quân chiến đấu đầu tiên của Việt Nam đợc tổ chức trọng thể tại sân bay Mông Tự (Trung Quốc) Ngày 10/3/1977, quân chủng không quân đã đựơc thành lập. Đến năm 2000, sát nhập với quân chủng phòng không hiện nay là quân chủng phòng không không quân. Hiện nay, lực lợng không quân của ta bao gồm: + Nhũng s đoàn không quân tiêm kích, nhũng s đoàn không quân tiêm kích đa năng. + Những trung đoàn máy bay vận tải. + Nhũng trung đoàn máy bay trực thăng. + Nhũng nhà máy sửa chữa máy bay. + Nhũng sân bay trải dài khắp đất nớc. + Các học viện nhà trờng đào tạo ra những phi công, những cán bộ kỹ thuật hậu cần, chỉ huy có trình độ đại học. b)Vai trò của không quân trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Tháng 4 năm 1965, mặt trận trên không đã đợc mở ra. Ngày 3/4/1965, không quân ta mở cuộc không chiến đầu tiên với không quân Mỹ trên bầu trời Hàm Rồng. 4 máy bay Mig.17 của ta chiến đấu với khoảng 20 máy bay của không quân hải quân Mỹ, chỉ sau ít phút chiến đấu Sau hai trận đánh ngày 3 và 4 tháng 4, địch không còn coi thờng không quân của ta nữa. Không quân của ta cũng kịp thời rút kinh nghiệm tổ chức một số trận đánh mới. Ngày 17/6/1965, biên đội 4 chiếc MIG17 đánh với 20 chiếc AD.4 và F.4 trên vùng trời Ninh Bình. Ta đã bắn rơi đợc 2 chiếc F.4 nhung biên đội của ta bị tổn thơng rất nặng: hai chiếc bị địch bắn rơi, một chiếc bị va vào núi, 1 phi công hy sinh. Ngày 20/6/1965, biên đội hai chiếc Mig.17 của ta đánh với 6 chiếc AD.6 ta chỉ bắn rơi một chiếc và bắn bị thơng một chiếc nhng một chiếc của ta bị va vào núi phi công hy sinh. Một số trận chiến đấu đầu tiên đã cho thấy đợc sự ác liệt một mất một còn của mặt trận trên không. Trận nào ta cũng đánh rơi máy bay địch nhng tổn thất của chúng ta cũng hết sức nặng nề. Theo chỉ đạo của Thờng trực Quân uỷ Trung ong và Bộ Tổng t lện, từ đầu quý 3 năm 1965 không quan ta bắt đầu giảm cờng độ chiến đấu. Đến giữa năm 1965, thêm 30 phi công đào tạo tại Liên Xô và Trung Quốc đã trở vè nớc. So với những ngày đầu, đội ngũ phi công của ta tăng gấp 2 lần. Do vậy ngày 7/9/1965, Bộ Quốc Phòng quyết định thành lập trung đoàn không quân tiêm lích thứ hai, phiên hiệu là 923 lấy sân bay Kép là căn cứ. Cũng trong thời gian này, tám tổ bay ném bom đào tào tại Liên Xô về nớc, đợc tổ chức thành đại đội không quân 929, đựơc trang bị 12 máy bay gồm 8 máy bay ném bom IL.28, 2 máy bay trinh sát, 2 máy bay huấn luyện. Cuối năm 1965, không quân của ta đợc trang bị thêm máy bay tiêm kích MIG.21 có tính năng kỹ thuật hơn hẳn MIG.17, không hề thua kém các máy bay Mỹ dùng để đánh phá miền Bắc. So với ngày đầu, số lợng máy bay tăng gấp ba lần, đặc biệt có nhũng máy bay tiêm kích , vận tải mới và máy bay ném bom. Sau gần hai tháng tạm dừng để rút kinh nghiệm, củng cố lực lợng, huấn luyện và tìm cách đánh, đầu tháng 9/1965, Bộ tổng tham mu và bộ t lệnh Quân chủng quyết định cho không quân tiếp tục chiến đấu. Những tháng cuối năm 1965, không quân của ta tiếp tục đánh một số trận nữa. ngày 6/11/1965, biên đội Trần Hanh, Ngô Đoàn Nhung, Phạm Ngọc Lan và Trần Văn Phơng kịp thời xuất kích, tiêu diệt một máy bay lên thẳng của địch khi máy bay náy bay vào cứu phi công Mỹ gặp nạn. Đây là chiếc máy bay thứ 15 mà không quân ta bắn rơi trên vùng trời phía Bắc. Trong ngày 4/3/1966, trung đoàn 923 xuất kích trận đầu tiên. Vào lúc 15 giờ 42 phút, phát hiện địch vào đánh đờng sắt Yên Bái Phú Thọ, biên đội 4 chiếc gồm Phan Thành Trung, Ngô Đức Mai, Trần Minh Phơng và Nguyễn Thế Hôn cất cánh đã bắn rơi đợc 1 chiếc F.4. Đặc biệt trong trện đánh này, Ngô Đức Mai đã thể hiện một tinh thần hết sức dũng cảm khi quyết định không nhảy dù, quyết định hạ cách khẩn cấp máy bay để cứu máy bay khi máy bay đã hết dầu. Ngày 4/3/66 đợc ghi nhận là ngày truyền thống đánh thắng trận đầu tiên của trung đoàn. Đợc động viên bởi nhũng chiến công của các đơn vị không quân tiêm lích, trung đoàn không quân vận tải 919 cũng tích cực nghiên cứu tìm cách thiết kế vũ khí cho một số máy bay vận tải, phấn đấu thực hiện cả hai nhiệm vụ: phục vụ chiến đấ và trực tiếp tham gia chiến đấu chống lại các mục tiêu trên mặt đất và trên mặt nớc. Đêm ngày 8/3/66, phát hiện tàu địch hoạt đọng ở gần biển Sầm Sơn, hai chiếc AN.2 đợc lệnh xuất kích, phóng rocket tiêu diệt đợc tàu biệt kích của địch. Đây là chiến dịch diệt tàu địch đầu tiên của bộ đội không quân vận tải của ta. Sau trận đánh này, một số tàu địch không còn dám vào gần bờ nh trớc. Cùng với việc địch tăng cờng tập trung đánh phá miền Bắc, cuộc chién đấu của không quân ta ngày càng quyết liệt. Cùng với các lực lợng phòng không, không quân ta từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1966 đã đánh 10 trận, bắn rơi 12 máy bay địch, góp phần bảo vệ giao thông vận tải và một số mục tiêu quan trọng. Càng đánh, hiệu suất chiến đấu của không quân ta ngày càng cao và vũng chắc.Đặc biệt ngày 26/4/1966, biên đội Mig.17 do Hồ Văn Quỳ chỉ huy đã bắn rơi 20 chiếc F.4C và bắn bị thơng một chiếc khác trên vùng trời Lạng Sơn. Ngày 5/6/1966, biên đội 2 chiếc Mig.17 đã đánh với số địch gấp nhiều lần bắn rơi 2 chiếc F.8U. Ngày 21/6/1966, biên đội 4 chiếc Mig.17 gồm Phan Thành Trung, Dơng Trung Tân, Nguyễn Văn Bảy, Phan Văn Túc hiệp đồng cùng bộ đội pháo phòng không, biên đội đã bắn rơi 2 chiếc F.8E. Ngày 7/7/1966, biên đội hai chiếc Mig.21 do Nguyễn Nhật Chiêu và Trần Ngọc Xíu điều khiển đã bắn rơi đợc chiếc máy bay F.105D. Đây là chiếc máy bay có ngời lái đầu tiên mà Mig.21 tiêu diệt đợc. Bốn ngày sau, biên đội Mig.21 lại bán rơi 1 chiếc F.105 nữa đã củng cố niềm tin cho trung đoàn 921. Sau những thất bại liên tiếp, địch điên cuồng nghiên cứu tìm cách đánh trả đũa không quân của ta với đối tợng chính là Mig. Ngày 9/7, chúng huy động 12 máy bay F.105 không mang bom chỉ mang tên lửa và rocket chủ động săn lùng tiêu diệt Mig của ta. Thế nhng, chỉ với biên đội hai chiếc Mig, hiệp đồng tác

0 Comments:
Post a Comment
Subscribe to Post Comments [Atom]
<< Home