Làm rõ nguồn gốc lợi nhuận thương nghiệp, góp phần phát triển lý luận giá trị thặng dư của Các Mác
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 3. Dịch vụ thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản, nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận thương nghiệp Khi sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa đã thay thế nền sản xuất hàng hóa giản đơn, khi quy mô sản xuất đã trở nên rất lớn thì hoạt động thương nghiệp cũng cần thay đổi để thích ứng với tính chất và trình độ của nền sản xuất. Tư bản thương nhân xuất hiện, tồn tại song hành với tư bản sản xuất, và cạnh tranh với tư bản sản xuất. Đứng từ góc độ sản xuất hàng hóa hiện vật, C. Mác không coi dịch vụ thương nghiệp là một hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng, do đó, Ông chia chi phí lưu thông tư bản chủ nghĩa thành chi phí lưu thông thuần túy và chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông. Đối với khoản chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông, nó giống như quá trình sản xuất hàng hóa hiện vật tư bản chủ nghĩa được kéo dài ra, cho nên mọi sự phân tích về nó bây giờ giống như lĩnh vực sản xuất hàng hóa hữu hình và chúng ta không cần bàn thêm gì cả. Đối với khoản chi phí lưu thông thuần túy, C. Mác cho rằng khoản chi này không làm thay đổi giá trị sử dụng của hàng hóa hiện vật, mà chỉ chuyển hình thái giá trị của hàng hóa thành tiền và ngược lại, do đó nó không làm cho giá trị hàng hóa (hiện vật) tăng lên chút nào: “Lẽ dĩ nhiên là quy mô của chu chuyển hàng hóa ở trong tay nhà tư bản không thể nào biến lao động đó - lao động không sáng tạo ra giá trị mà chỉ làm cho giá trị tạm thời biến đổi hình thái - thành lao động sáng tạo ra giá trị”.[1] Theo C. Mác, chi phí lưu thông thuần túy tư bản chủ nghĩa là những “hư phí” vì đó là những chi phí không sản xuất, nhưng nó vẫn cần phải được bù đắp vì nó là những khoản chi cần thiết, quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể thiếu lưu thông được. 11 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 C. Mác đưa ra giả định là phần bù đắp cho chi phí lưu thông thuần túy sẽ được lấy từ bộ phận giá trị thặng dư do công nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa hiện vật tạo ra, tức là nhà tư bản công nghiệp sẽ bán hàng cho nhà tư bản thương nhân với giá cả thấp hơn giá trị, bằng cách này, tư bản công nghiệp không những bù đắp lại khoản tư bản đã ứng ra của tư bản thương nhân, mà còn trả thêm cho tư bản thương nhân một phần lợi nhuận tương ứng với số tư bản đó, tính theo tỷ suất lợi nhuận bình quân. Tất cả đều khấu trừ vào bộ phận giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất hàng hóa hiện vật. Đề cập vấn đề này, tác giả Lâm Cần Thanh cho rằng: “Lao động cụ thể của người bán hàng trong thương nghiệp không tạo ra giá trị sử dụng mới, nhưng lao động của họ cũng phân chia thành lao động cần thiết và lao động thặng dư, quá trình lao động của họ là quá trình thực hiện giá trị hàng hóa bao hàm giá trị thặng dư trong hàng hóa, trong quá trình đó họ cũng chi ra thể lực và trí lực của mình, hơn nữa đem thể lực và trí lực kết tinh vào hàng hóa cho nên khi bán hàng thì phải cộng thêm vào giá thành hàng hóa trên cơ sở giá thành sản xuất”.[2] Ở đây, Lâm Cần Thanh đã phát hiện ra vai trò của người lao động thương nghiệp thuần túy, ông yêu cầu hao phí lao động của họ cần được bù đắp bằng cách tính vào giá thành sản phẩm. Hạn chế của Ông là không chỉ rõ lao động này tạo ra giá trị kết tinh trong dịch vụ thương nghiệp thuần túy, ông không thừa nhận lao động thương nghiệp tạo ra giá trị sử dụng mới, mà vẫn cho rằng sức lao động của người bán hàng kết tinh trong hàng hóa hiện vật. Như vậy, bản thân lý luận của Lâm Cần Thanh tự nó đã chứa đựng mâu thuẫn. Giáo sư Đỗ Thế Tùng tiến xa hơn tác giả Lâm Cần Thanh khi khẳng định lao động của người bán hàng tồn tại nhưng không kết tinh trong sản phẩm hàng hóa hữu hình, Ông cho rằng: “Nhân viên làm dịch vụ thương nghiệp cũng chi phí lao 12 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 động tất yếu và lao động thặng dư, các chi phí đó đều không kết tinh trong sản phẩm hữu hình, nhưng thời gian lao động tất yếu được bù lại bằng tư liệu sinh hoạt theo nguyên tắc ngang giá, nên có thể thống kê được và được cộng vào giá trị của tổng sản phẩm xã hội, bao gồm cả hàng hóa hữu hình và dịch vụ, còn thời gian lao động thặng dư thì góp phần giảm chi phí lưu thông thuần túy, nhưng không được trao đổi lấy hiện vật nên không thống kê được. Như vậy lao động dịch vụ cũng tạo ra giá trị mới nhưng không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư vì lao động thặng dư ở đây không tính được”[3]. Ở đây, Giáo sư Tùng đã nhận thấy có một lượng giá trị được tạo ra do lao động của nhân viên bán hàng, khẳng định nó tồn tại độc lập với hàng hóa hữu hình, nhưng Ông cũng chưa chỉ ra được lượng giá trị này kết tinh trong hàng hóa vô hình – dịch vụ thương nghiệp thuần túy. Chính vì hạn chế này mà Ông chỉ nhận thấy phần lao động tất yếu thống kê được nhờ nó được bù lại bằng tư liệu sinh hoạt nuôi sống những người công nhân, mà không nhận thấy phần lao động thặng dư kết tinh thành giá trị thặng dư trong hàng hóa vô hình – dịch vụ thương nghiệp thuần túy, nó biểu hiện thành một bộ phận của lợi nhuận thương nghiệp, và nó hoặc biến thành tư liệu sinh hoạt của tư bản thương nhân, hoặc biến thành tư bản phụ thêm của hắn để mở rộng kinh doanh. Phần này cũng hoàn toàn có thể thống kê được. Nếu phần giá trị thặng dư kết tinh trong dịch vụ thương nghiệp thuần túy chỉ là một bộ phận của lợi nhuận thương nghiệp, thì bộ phận còn lại là gì? Chúng ta sẽ phân tích khoản lợi nhuận này một cách toàn diện hơn. Khi chúng ta đã chứng minh được dịch vụ thương nghiệp là một hàng hóa vô hình, có đầy đủ giá trị và giá trị sử dụng. Việc tạo ra thứ hàng hóa này dưới chủ nghĩa tư bản cũng đồng thời là quá trình tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. 13 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Để tổ chức hoạt động, tư bản thương nhân cũng phải ứng trước tư bản của mình, việc phân chia tư bản ứng trước của tư bản thương nhân thành chi phí lưu thông thuần túy và chi chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông không ảnh hưởng gì tới nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận thương nghiệp. Bởi vì, đối với tư bản thương nhân, chi phí của anh ta có tác động tới hàng hóa hiện vật, làm thay đổi giá trị sử dụng của hàng hóa hiện vật, hay chỉ thuần túy tạo ra hàng hóa vô hình cũng không quan trọng gì, mục đích của anh ta là tạo ra giá trị thặng dư, dù giá trị thặng dư ấy kết tinh trong hàng hóa hiện vật hay hàng hóa vô hình thì nó cũng đều biến thành lợi nhuận, sau khi anh ta bán trọn gói cả hai “loại hàng hóa” này cho người tiêu dùng. Như vậy lưu thông dưới chủ nghĩa tư bản hiểu theo nghĩa rộng, tức là quá trình bắt đầu từ khi tư bản thương nhân tiếp nhận hàng hoá hiện vật từ tay tư bản sản xuất cho tới khi bàn giao hàng hoá hiện vật đó tới tay người tiêu dùng, chẳng khác gì một quá trình sản xuất được kéo dài ra, cả việc tiếp tục sản xuất ra hàng hoá hữu hình (gia công, đóng gói, ...) và việc sản xuất ra hàng hoá vô hình (dịch vụ thương nghiệp thuần tuý). Cả hai công đoạn của quá trình này đều tạo ra giá trị và giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Khi chúng ta đồng nhất được vai trò của chi phí lưu thông thuần tuý và chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông đối với việc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, thì tình hình đối với lĩnh vực lưu thông bây giờ hoàn toàn giống như lĩnh vực sản xuất hàng hóa hữu hình. Tư bản thương nghiệp bây giờ chia làm hai phần: phần tư bản bất biến để mua tư liệu sản xuất (chi phí xây cửa hàng, mua phương tiện vận tải, mua hàng hoá hiện vật của nhà tư bản sản xuất, sổ sách kế toán, ...) và phần tư bản khả biến trả công cho công nhân hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, ta thống nhất gọi chung là công nhân thương nghiệp (gồm cả những người 14 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 làm công việc gia công, đóng gói sản phẩm và những người làm công việc bán hàng thuần tuý). Giá trị tư bản bất biến sẽ được lao động cụ thể của công nhân thương nghiệp bảo toàn nguyên vẹn và chuyển hoá nó sang sản phẩm hàng hoá hiện vật (lao động gia công, đóng gói) hoặc chuyển hoá nó sang hàng hoá vô hình - dịch vụ thương nghiệp (lao động bán hàng thuần tuý). Đồng thời, lao động trừu tượng của công nhân thương nghiệp bây giờ kết tinh cả trong hàng hoá hiện vật (lao động gia công, đóng gói) và kết tinh cả trong hàng hoá vô hình (lao động bán hàng thuần tuý) tạo ra một lượng giá trị mới. Theo tính chất đặc biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động, lượng giá trị mới nói trên sẽ lớn hơn bản thân giá trị sức lao động của công nhân thương nghiệp, phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, đó là nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp. Như vậy, nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp là do công nhân thương nghiệp tạo ra. Bản chất của nó là giá trị thặng dư, là phần lao động không được trả công của công nhân thương nghiệp bị tư bản thương nhân tước đoạt. Lợi nhuận thương nghiệp phản ánh mối quan hệ bóc lột trực tiếp của tư bản thương nhân đối với lao động làm thuê trong lĩnh vực lưu thông. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, tư bản thương nhân cạnh tranh với tư bản sản xuất hàng hoá hiện vật và lợi nhuận thương nghiệp cũng tham gia vào quá trình bình quân hoá lợi nhuận. Khi nói toàn bộ giai cấp tư sản bóc lột toàn bộ giai cấp vô sản thì đã bao hàm cả nhà tư bản hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá hiện vật và nhà tư bản thương nhân, bao hàm cả công nhân công nghiệp và công nhân thương nghiệp. 15 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 4. Kết luận Việc khẳng định thương nghiệp là hàng hóa vô hình, chỉ ra lĩnh vực lưu thông cũng tạo ra giá trị và trình bày nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận thương nghiệp như trên đã giúp bác bỏ mọi quan niệm thần bí hóa khoản thu nhập này của các nhà tư bản. Bây giờ sự vận động T – H – T’ trong lưu thông không có nghĩa tiền tự nó đẻ ra tiền, mà đằng sau đó là một quá trình sản xuất, sản xuất ra thứ hàng hóa vô hình – dịch vụ thương nghiệp. Kết luận trên hoàn toàn không trái với lý luận giá trị - lao động của C. Mác, trái lại việc khẳng định rõ nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận thương nghiệp càng giúp cũng cố vững chắc lý luận giá trị thặng dư của Ông. Điều đó thể hiện trên các nội dung sau: Thứ nhất, nguồn gốc duy nhất của giá trị vẫn là lao động trừu tượng, dù lao động trừu tượng này ẩn chứa đằng sau loại lao động cụ thể sản xuất hàng hóa hiện vật hay lao động cụ thể sản xuất hàng hóa vô hình, thì kết quả tạo ra giá trị của nó không có gì thay đổi. Thứ hai, lợi nhuận thương nghiệp là biểu hiện bằng tiền của giá trị thặng dư được tạo ra trong lĩnh vực thương nghiệp, đó là lượng giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động của công nhân thương nghiệp, bị tư bản thương nhân tước đoạt, bất kể lượng giá trị này do người công nhân bán hàng tạo ra hay do người công nhân tiếp tục quá trình sản xuất hàng hóa hiện vật trong lưu thông tạo ra. Thứ ba, thương nghiệp là một ngành sản xuất hàng hóa vô hình, nó vừa tồn tại độc lập tương đối, vừa không thể tách rời các ngành sản xuất hàng hóa hiện vật. Trong phương thức sản xuất TBCN, giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, lợi nhuận thương nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình bình quân hóa lợi nhuận. 16

0 Comments:
Post a Comment
Subscribe to Post Comments [Atom]
<< Home