Tuesday, March 22, 2016

Phương pháp thăm dò tìm kiếm dầu khí tại vùng rìa thuộc bể Cửu Long

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAN VĂN KÔNG đây người ta phát hiện ra nhiều bào tử phấn hoa và các dạng vi cổ sinh ( được trình bày ở phần đòa tầng) + Trầm tích Oligocene thượng điệp Trà Tân:Chiều dày của điệp này từ 100 – 1000m. Ở điệp này người ta phát hiện trầm tích chủ yếu là sông hồ đầm lầy và biển nông, ngoài ra vào thời Oligocene thượng còn xảy ra các hoạt động magma với sự có mặt của các đá phun trào như Bazan Andezit..v.v. Phần bên dưới của trầm tích Oligocene thượng là sự xen kẽ của các lớp cát có kích thước hạt mòn tới trung bình xen với các lớp bột kết. Lên trên đặc trưng các lớp sét màu đen dày, ở khu vực tới Nâng Côn Sơn, phần trên của mặt cắt tỉ lệ cát nhiều hơn. Ở một vài nơi có dò thường áp suất cao. B. Các thành tạo trầm tích Neogene. Trầm tích Miocene hạ – điệp Bạch Hổ (N11bh): Trầm tích điệp Bạch Hổ phát hiện được hầu hết mọi giếng khoan ở bồn trũng Cửu Long. Trầm tích điệp này nằm bất chỉnh hợp lên các trầm tích cổ hơn. Bề mặt bất chỉnh hợp phản xạ khá tốt trên mặt cắt đòa chấn. Đây là bề mặt bất chính hợp quan trọng nhất đối với trầm tích Kainozoi. Dựa theo các tài liệu về thạch học, cổ sinh, đòa vật lý thì điệp này chia ra hai phụ điệp. Phụ điệp Bạch Hổ dưới. Trầm tích của lớp này phát hiện được gồm các lớp cát kết lẫn với sét kết và bột kết. Càng gần về phía trên của phụ điệp khuynh hướng cát to càng thấy rõ, cát kết thạch anh màu xám hạt độ từ nhỏ tới trung bình, độ lựa chọn khá tốt. Được gắn kết chủ yếu bằng xi măng sét, Kaolinit lẫn một ít Cacbonat. Bột kết có màu từ xám sáng đến nâu xanh đến tối, trong phần dưới chứa nhiều sét. Trong phần rìa của bồn trũng Cửu Long, cát chiếm phần lớn gần 60% và giảm dần ở trung tâm của bồn trũng. SVTH : VO Õ HOÀNG ÁI 11 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAN VĂN KÔNG Phụ điệp Bạch Hổ giữa. Phần dưới của phụ điệp này là những lớp cát hạt nhỏ lẫn với những lớp bột rất mỏng. Phần trên chủ yếu là các lớp sét kết và bột kết đôi chỗ gặp những vết than và Glauconit. Phụ điệp Bạch Hổ trên: Nằm chỉnh hợp lên phụ điệp Bạch Hổ giữa thành phần sét kết có màu xám xanh, xám sáng, cát kết xen với các lớp sét kết dày. Tầng sét kết dày là tầng chắn có hiệu quả của bể. Môi trường thành tạo là lòng sông và đồng bằng châu thổ thành phần chủ yếu là sét kết xanh xám, xám sáng. Phần trên cùng của mặt cắt là tầng sét kết Rotalia có chiều dày 30 – 300m, chủ yếu trong khoảng 50 – 100m,là tầng chắn khu vực tuyệt vời cho toàn bể. Trong trầm tích điệp Bạch Hổ rất giàu bào tử Magnastriatites Howardi và phấn Shorae. Trầm tích của điệp có chiều dày thay đổi từ 500 – 1250m, được thành tạo trong điều kiện biển nông và ven bờ. Theo các nghiên cứu gần đây hệ tầng Bạch Hổ còn có các đá magma phun trào cũng hiện diện ở nhiều giếng khoan. Thành phần thạch học là Bazan, và cả loại tuff, ngoài ra còn có Andizitobazan, Trachyt-bazan, Andezit và tuff andezit ít phổ biến hơn ( 01-TOPAZ-1X, 01-TOURQUAR-1X…) chiều dày các đá magma phun trào từ vài mét tới vài chục mét có lúc đạt tới hàng trăm mét ( gk 01 Tourquar- 1X ) nằm xen kẹp với Miocene sớm hoặc thấu kính. Do chúng có tuổi trẻ hơn một số loạt trầm tích nên chúng xuyên cắt các trầm tích trẻ. • Trầm tích Miocêc trung – điệp Côn Sơn (N12 cs). Trầm tích điệp này phủ bất chỉnh hợp trên trầm tích Miocene hạ, bao gồm sự xen kẽ giữa các tập cát dày gắn kết kém, với các lớp sét vôi màu xanh thẫm, đôi chỗ gặp các lớp than. SVTH : VO Õ HOÀNG ÁI 12 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAN VĂN KÔNG • Trầm tích Miocêc thượng – điệp Đồng Nai (N13 dn). Trầm tích này được phân bố rộng rãi trên toàn bộ bồn trũng Cửu Long một phần của đồng bằng sông Cửu Long, trong giếng khoan Cửu Long 1. Trầm tích của điệp này nằm bất chỉnh hợp trên trầm tích điệp Côn Sơn. Trầm tích phần dưới gồm những lớp cát xen lẫn những lớp sét mỏng. Đôi chỗ lẫn với cuội, sạn kích thước nhỏ. Thành phần chủ yếu là thạch anh, một ít những mảnh đá biến chất, tuff và những tinh thể Pyrit. Trong sét đôi chỗ gặp than nâu hoặc bột màu xám sáng. Phần trên là cát thạch anh với kích thước lớn, độ lựa chọn kém, hạt sắc cạnh, trong cát gặp nhiều mảnh hóa thạch sinh vật glauconit, than và đôi khi cả tuff. • Trầm tích Pliocene – đệ tứ_ điệp Biển Đông (N2_Qbđ) Trầm tích của điệp này phủ bất chỉnh hợp lên trầm tích Miocene. Trầm tích của điệp này đánh dấu một giai đoạn mới của sự phát triển trên toàn bộ trũng Cửu Long, tất cả bồn trũng được bao phủ bởi biển. Điệp này được đặt trưng chủ yếu là cát màu xanh, trắng, có độ mại tròn trung bình, độ lựa chọn kém, có nhiều Glauconit, nhiều mảnh vỏ vôi sinh vật, đôi chỗ có thấu kính đá vôi sinh vật. Trong cát có cuội thạch anh hạt nhỏ. Phần trên tham gia của hóa thạch giảm, cát trở nên thô hơn, trong cát có lẫn bột, chứa Glauconit bào tử phấn hoa. Ngoài sự phổ biến đá trầm tích thì hoạt động núi lửa gần như không xảy ra là rất hạn chế ở bể Cửu Long. Tuy nhiên trên mặt cắt đòa chất tại khu vực lô 01 và 02 có thể nhận dạng dựa vào mức độ phản xạ thì sự tham gia của đá magma xâm nhập ở hệ tầng biển Đông. Có lẽ thành phần thạch học của chúng là chủ yếu Bazan. SVTH : VO Õ HOÀNG ÁI 13 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAN VĂN KÔNG HÌNH 2 : Cột đòa tầng bể Cửu Long SVTH : VO Õ HOÀNG ÁI 14 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAN VĂN KÔNG CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC KIẾN TẠO Do những đặc điểm về kiến tạo mà phần móng của bồn trũng, cũng như các lớp trầm tích đều chòu tác động mạnh mẽ. Bồn trũng Cửu Long nằm ở thềm lục đòa Việt Nam chòu sự tác động của ba mảng Evrazi, Oxstraylia và Thái Bình Dương (Gareser, VPG. Lê Trần Đông tuyển tập báo cáo khoa học) kết quả của quá trình di chuyển của các mảng lục đòa có sự biết vò của đới Benofa thuộc dạng có uốn nếp nhấp nhô chúng là những khối nặng của các lớp phía trên mảng quyển đá, quá trình dòch chuyển nhiều lần của các mảng đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành cơ sở đá Granit, Granodiori, tạo ra hình dạng ovan của bồn trũng, trầm tích ở trung tâm bồn dày tới 8km. Bồn được ngăn với phía Đồng Bằng là đới nâng đá móng khối nâng Côn Sơn. Sự lan truyền tách giãn Biển Đông ( vào cuối Oligocene muộn tới đầu miocene) đóng vai trò chính khống chế sự phát triển của bể Cửu Long nằm song song với trục tách giãn Biển Đông. Ngày nay ở bồn trũng đã phát hiện nhiều mỏ dầu có trữ lượng lớn như Bạch Hổ, Rồng, Ruby…vv. I. ĐẶC ĐIỂM UỐN NẾP VÀ ĐỨT GÃY 1. Đặc điểm đứt gãy: Đứt gãy ở bồn trũng là một vấn đề rất cần quan tâm, đối với các bồn dầu khí nói chung, và bồn Cửu Long nói riêng. Trải qua nhiều giai đoạn lòch sử hoạt động kiến tạo đã tạo nên hệ thống đứt gãy ở bồn trũng đặc điểm hết sức phức tạp. Phần nào chòu ảnh hưởng của hai đới đứt gãy lớn là đới đứt gãy Sông Hồng và đứt gãy Maeping do sự va chạm mảng Ấn Độ và Âu Á. Trong giai đoạn Paleogen (Lepichen và nnk 1992, Tapponier và nnk 1986) SVTH : VO Õ HOÀNG ÁI 15 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S PHAN VĂN KÔNG Các hướng đứt gãy ở bể Cửu Long là Đông Bắc- Tây Nam, do ảnh hưởng tách giãn của Biển Đông và Maeping. Hướng Bắc – Nam do ảnh hưởng tách giãn Sông Hồng. Các hệ thống đứt gãy phụ do quá trình nén ép trong khối. Đa số các đứt gãy hoạt động ở trong móng là chủ yếu, đồng thời cũng xảy ra với trầm tích ở Paleogen hạ, đứt gãy lớn xảy ra ở trung tâm đòa hào, vào tuổi J-K và P đồng thời cường độ xảy ra mạnh ở khối nâng Côn Sơn. Các thời kỳ trầm tích trẻ đứt gãy ít xảy ra. Hoạt động nén ép vào cuối Oligocene muộn đã gây ra đứt gãy nghòch nhỏ trong trầm tích Oligocene và các đứt gãy quan trọng ở một số nơi. 2. Đặc điểm uốn nếp: Nếp uốn là hậu quả của quá trình hoạt động biến đổi thế nằm của đất đá. Trong đó hoạt động kiến tạo là động lực tác động liên quan chủ yếu, đối với bồn trũng Cửu Long các hoạt động uốn nếp xảy ra sau quá trình kiến tạo có tuổi trẻ hơn so với hình thành đá móng. Ở đây các uốn nếp xảy ra có tuổi từ Neocene đến thời kỳ Đệ Tứ trở đi. Dựa vào các tài liệu thì uốn nếp ở đây khá phức tạp có thể phân ra như sau: Vào thời kỳ Miocene sớm các lớp trầm tích còn xảy ra các hoạt động biến dạng không liên tục phân bố ở toàn khu vực của bồn. Các uốn nếp nén ép cấu tạo hình hoa được thành tạo vào cuối Oligocene và chỉ được tìm thấy ở các đòa hào chính. Các cấu tạo Gió Đông, sông Ba ( 15B) là những ví dụ. Các uốn nếp này phân bố ở trong hoặc gần với vùng trung tâm bể nơi có phần đá móng chìm sâu. Các uốn nếp phủ chờm của trầm tích Oligocene lên trên các khối cao của móng cổ là đặc điểm phổ biến nhất ở bể Cửu Long như ở các cấu tạo Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông và Ruby… Các nếp lồi gắn với nghòch đảo trầm tích có thể tìm thấy nếu căn cứ vào lòch sử kiến tạo và sự có mặt của cấu tạo hình hoa. SVTH : VO Õ HOÀNG ÁI 16

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home