Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà hàng, khách sạn tỉnh Quảng Trị
mầm có khoảng 2000 loài, 690 chi, 145 họ và Lớp một lá mầm có 400 loài, 189 chi, 31 họ. Hệ thực vật vùng QuảngTrị có 51 loài thực vật quý hiếm đã được nghi trong Sách Đỏ Việt Nam. 1.2. CÁC YẾU TỐ KINH TẾ - XÃ HỘI 1.2.1. Dân số - lao động a. Dân số: Tính đến hết năm 2009 dân số tỉnh Quảng Trị có 599.221 người, trong đó nam : 297.428 người chiếm 49,64% ; nữ : 301.793 người chiếm 50,36%. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,30 % và có xu thế giảm dần qua các năm. Mật độ dân số 126 người/km2 [Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị 2009]. Dân số Quảng Trị phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, tỷ lệ dân số ở vùng nông thôn chiếm đến 71,97% (năm 2009). Do các đô thị ở Quảng Trị phát triển chậm, tốc độ đô thị hóa chưa cao nên cơ cấu dân số nông thôn với thành thị qua các năm không có sự biến đổi lớn lắm. Mặt khác, do chưa có các khu công nghiệp tập trung, quá trình hình thành các khu công nghiệp, khu vực kinh tế trọng điểm mới bắt đầu nên hiện tượng di dân chưa xảy ra. Các khu dân cư tập trung trong tỉnh chủ yếu là ở thành phố, thị xã, thị trấn. b. Lao động: Tổng số lao động hiện có trong toàn tỉnh là 302.650 người, trong đó lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật lên đến 74%, lao động có trình độ cao đẳng đại học trở lên chiếm 6,8%. Số lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp là 167.795 người chiếm 55,44% tổng số lao động. Lực lượng lao động giữa các vùng có sự chênh lệch về quy mô và chất lượng lao động, vùng đồng bằng là vùng có lực lượng lao động tập trung đông nhất và số lao động có trình độ thâm canh sản xuất chiếm tỷ lệ lớn , đặc biệt là sản xuất nông sản theo hướng hàng hóa. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng lao động nhìn chung đã có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong cơ cấu và chất lượng lao động còn bộc lộ 11 rõ sự mất cân đối giữa các nghành như lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao, phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp, tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở khu vực thành thị còn chiếm 4,65% (2009) tổng số lao động trong độ tuổi. Cần có những chính sách hợp lý để tạo việc làm cho lao động thất nghiệp, đặc biệt là đưa lao động vào hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, phục vụ du lịch. 1.2.2. Cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật Hệ thống giao thông thuận lợi, bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy: Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, đường sắt chạy xuyên qua tỉnh theo hướng Bắc – Nam, Quốc lộ 9 gắn với Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo chạy theo hướng Đông – Tây; cảng Cửa Việt đang được đầu tư nâng cấp để đón tàu có trọng tải 5.000 đến 6.500 DWT. Cảng biển Mỹ Thủy có khả năng đón tàu có trọng tải 50.000 DWT ra vào thuận lợi đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch và đang được tỉnh đẩy mạnh xúc tiến đầu tư xây dựng. Bưu chính viễn thông phát triển, có mạng cáp quang trang bị đến 100% huyện và thị xã. Hệ thống cấp điện, nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất được đảm bảo; Các dịch vụ vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục...đang phát triển nhanh chóng. 1.2.3. Giáo dục – y tế a. Giáo dục: Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có những bước tiến khá toàn diện về quy mô, nâng cao chất lượng dạy và học. Hiện nay trên toàn Tỉnh có 158 trường mẫu giáo, 162 trường tiểu học, 115 trường trung học cơ sở, 31 trường trung học phổ thông, 17 trường phổ thông cơ sở, 3 trường trung học, 4 trường trung cấp chuyên nghiệp,1 trường cao đẳng và một phân hiệu đại học Huế ở Quảng Trị. 100% xã, phường, thị trấn có trường tiểu học; 89% xã, phường, thị trấn có trường trung học cơ sở. Trong những năm qua sự nghiệp về giáo dục đã có nhiều tiến bộ đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đa dạng hóa được hình thức giáo dục. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả giáo dục chưa cao, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, tỷ lệ lao động chưa được đào tạo nghề còn cao… 12 b.Y tế: Công tác y tế, bảo vệ sức khỏe cộng đồng những năm gần đây đã có những tiến bộ đáng kể. Tính đến năm 2009 toàn tỉnh có 162 cơ sở y tế trong đó có: 11 bệnh viện; 9 phòng khám đa khoa khu vực; 141 trạm y tế xã, phường và 1 trạm điều dưỡng với 2.047 giường bệnh và 2.626 cán bộ y tế trong đó có 382 bác sĩ. Các xã đều có trạm y tế nhờ đó chất lượng KCB và phục vụ được nâng lên ở các tuyến. Nhiều kỹ thuật mới được triển khai (mổ nội soi, chụp cắt lớp, mổ máu tụ sọ não, hồi sức cấp cứu...) KCB cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, BHYT được triển khai đến tuyến xã tạo điều kiện người bệnh được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng gần nhất, đảm bảo công bằng trong CSSK các đối tượng. Các dự án mục tiêu quốc gia, quốc tế được thực hiện rộng khắp, đạt và đạt chỉ tiêu đề ra. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nhất là đồng bào các dân tộc vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa được quan tâm đúng mức. Ngoài ra công tác thanh tra, kiểm tra về hành nghề Y dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm và thực hiện các chế độ pháp quy của nghành được triển khai đồng bộ, thường xuyên và có sự phối hợp liên ngành. Công tác nghiên cứu khoa học đã được đẩy mạnh và có nhiều báo cáo cấp ngành đạt chất lượng cao, có tính khả thi trong ứng dụng thực tế. 1.2.4. Văn hoá – xã hội và các lễ hội Hoạt động văn hóa, thông tin, TDTT có nhiều tiến bộ, thiết thực phục vụ nhiện vụ chính trị của địa phương. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” có nhiều chuyển biến tích cực. Các lễ hội văn hóa được quan tâm, chú trọng bảo tồn văn hóa các dân tộc, xây dựng mô hình hoạt động văn hóa thông tin phù hợp từng vùng, từng khu vực… Đời sống dân cư ở thành thị và nông thôn đều được cải thiện rõ rệt. Kết quả các cuộc điểu tra khảo sát mức sống đân cư, điều tra giàu nghèo và điều tra hộ gia đình cho thấy: Thu nhập bình quân mỗi người 1 tháng của các hộ đã tăng từ 227,3 nghìn đồng năm 2002; 304,7 nghìn đồng năm 2004; 436,4 nghìn đồng năm 2006 và 722,9 nghìn đồng năm 2008. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những thành tự nổi bật, đã xóa hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm. Các đối tượng chính sách, người có công, 13 gia đình thương binh, liệt sỹ thường xuyên được chăm lo. Phong trào “đền ơn đáp nghĩa” triển khai sâu rộng, đạt hiệu quả thiết thực… Bên cạnh các thành quả trên đời sống văn hóa, xã hội của tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là tệ nan xã hội, nhất là tệ nạn ma túy đang có chiều hướng gia tăng tạo bộ mặt không tốt, ảnh hưỏng rất lớn đến việc phát triển du lịch. 1.2.5. Đường lối, chính sách Du lịch được xác định là một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, những năm qua, tỉnh Quảng Trị đã có sự đầu tư nâng cấp và xây dựng các trung tâm cụm du lịch. Nhiều di tích lịch sử cách mạng được trùng tu, tôn tạo khôi phục và giữ gìn để khai thác tốt thế mạnh về du lịch theo tour DMZ: Nhà lưu iệm Cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn, Bãi tắm Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thủy, Di tích đôi bờ Hiền Lương… mở thêm nhiều tour, tuyến mới như tổ chức nhiều tuyến du lịch trọn gói đi trong và ngoài nước. Với những chính sách ưu đãi của tỉnh thì hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở kinh doanh phát triển nhanh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Đặc biệt là sau khi Ban Quản lý các khu du lịch tỉnh được thành lập và việc tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, hoàn thành tuyến đường Cửa Việt – Cửa Tùng và 2 cây cầu lớn: cầu Cửa Tùng, cầu Cửa Việt đã tạo điều kiện để Quảng Trị thu hút đầu tư và phát triển mạnh ngành du lịch trong tương lai. 14 CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHÀ HÀNG, KHÁCH SẠN Ở TỈNH QUẢNG TRỊ 2.1. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2.1.1. Tài nguyên du lịch a. Tài nguyên tự nhiên * Các bãi biển - Bãi biển Cửa Tùng Đây được mệnh danh là “nữ hoàng của các bãi tắm”. Bãi biển Cửa Tùng nằm trong một cung lõm giữa hai mũi bazan nhô ra biển, có một vị trí khá đẹp. Với danh tiếng của mình cũng như những điều kiện giao thông khá thuận lợi, Cửa Tùng có khả năng thu hút khách rất lớn. Tại đây cũng có điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển các hình thức vui chơi giải trí khác. Cửa Tùng có khả năng kết hợp tốt với các điểm du lịch lân cận như rừng nguyên sinh Rú Lịnh, sông Bến Hải, Cầu Hiền Lương… - Bãi biển Thái Lai Thuộc xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh rất rộng, đẹp, có chiều dài trên 1km và đã có khách đến tắm biển. Tuy nhiên cảnh quan của bãi biển còn đơn điệu, thiếu những đường nét đặc biệt để thu hút nhiều du khách. - Bãi biển Nam mũi Chặt Bãi biển nằm cách mũi Chặt 300m về phía nam cũng là một bãi nằm trong cung bờ lõm. Khu vực này nằm cách bãi Cửa Tùng khoảng 4 – 5 km tính theo đường giao thông nên trong tương lai có thể liên kết phát triển tốt đồng thời có khả năng kết hợp với các tour du lịch đi địa đạo Vĩnh Mốc, cầu Hiền Lương, rừng nguyên sinh Rú Lịnh… * Đảo Cồn Cỏ Đảo Cồn Cỏ là một nơi rất có tiềm năng để phát triển du lịch trên đảo và các vùng biển lân cận gồm: Du lịch nghỉ dưỡng, ở đây có điều kiện khí hậu tốt, không khí 15 trong lành nên rất thích hợp cho loại hình du lịch này. Các bãi tắm của đảo không rộng, song cảnh quan bờ biển rộng và độc đáo, đa dạng, có thể trở thành các điểm tham quan, ngắm cảnh. Thảm thực vật trên đảo dù không được bảo tồn tốt, song có thể tự phục hồi nếu quản lý tốt, một số loài thực vật trên vùng đất khô hạn ven bò biển có thể trở thành đối tượng tham quan của du khách, với mục tiêu tăng cường ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. * Các dạng cảnh quan sinh thái độc đáo của tỉnh - Động Voi Mẹp: Đặc trưng của động này sự độc đáo của cảnh quan sinh thái phân dị theo đai cao với sự khác biệt giữa cảnh quan Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Thảm thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng, bao gồm rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm núi thấp, rừng kín cây lá rộng á nhiệt đới ẩm, rừng cây lá kim, quần xã đặc biệt ở đỉnh núi. - Động Ba Lê: Các bề mặt san bằng địa hình phân thủy cao 1000 – 2000m tại núi Ba Lê đã tạo nên ở đây hình thành một khu nghỉ dưỡng có giá trị. Các mặt bằng ở đây đủ diện tích để xây dựng các khu nghỉ dưỡng, các công trình công cộng khác trong một khu du lịch. - Khe Sanh: Là khu vực có độ cao tuyệt đối thấp nhất của đỉnh Trường Sơn , Khe Sanh có đầy đủ các điều kiện để trở thành một khu du lịch sinh thái đầy tiềm năng. Nằm trong một quần thể các tài nguyên du lịch tự nhiên và đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn như các di tích lịch sử cách mạng phản ánh một vùng đất kiên cường hy sinh chiến đấu vì sự nghiệp thống nhất đất nước đã khẳng định Khe Sanh là một trung tâm du lịch của tỉnh Quảng Trị. * Hệ sinh thái rừng nhiệt đới - Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông: ở đây có thảm thực vật tự nhiên vành đai thực vật nhiệt đới (800m) và nhiều đặc điểm độc đáo khác để có thể phát triển du lịch sinh thái. - Rú Lịnh: Sự hiện diện của Rú Lịnh đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn cao của cụm du lịch sinh thái Cửa Tùng – Vĩnh Mốc. Rú Lịnh thuộc địa phận 2 xã Vĩnh Hiền và Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh. Đây là khu rừng nguyên sinh tồn tại trên một vùng đất đỏ bazan ở độ cao 94 m của vùng đồng bằng duyên hải, rộng khoảng 100 16

0 Comments:
Post a Comment
Subscribe to Post Comments [Atom]
<< Home